Trái rạ, tiếng Mỹ gọi là “chicken pox” hoặc “varicella,” là bệnh nhiễm trùng gây ra ban ngứa với các mụn nước, rất dễ lây lan.
Trái rạ không phải là sởi hay Rubella, mà được gọi là Varricella. Ðây là một bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào.
Bệnh gây ra bởi varicella-zoster virus (VZV). Virus (siêu vi trùng, vi rút) này đi vào cơ thể qua miệng, mũi sau khi tiếp xúc với người bệnh.
Người bệnh bắt đầu có thể lây bệnh từ một ngày sau khi nổi ban cho đến khi tất cả các mụn nước đều đã đóng vẩy.
Một khi đã bị trái rạ, hầu như tất cả các bệnh nhân đều sẽ có sức đề kháng với bệnh này suốt đời, tức là sẽ không bao giờ bị trái rạ nữa. Trừ trường hợp người bệnh bị bệnh này lúc quá nhỏ, hệ thống miễn nhiễm của cơ thể chưa có khả năng sản xuất ra kháng thể.
Vì trái rạ có sức lây lan rất mạnh, hầu như 90 phần trăm những người trong gia đình người bệnh sẽ bị lây bệnh, nếu những người này chưa có sức đề kháng với bệnh (nhờ thuốc chủng ngừa, hay đã từng bị bệnh này rồi).
Trước lúc có thuốc chủng ngừa (được chuẩn thuận hồi năm 1995), trái rạ thường xảy ra thành dịch, thường thường vào cuối mùa Ðông, đầu mùa Xuân. Từ khi có thuốc chủng, và được khuyến cáo chủng ngừa cho tất cả trẻ em, các trường hợp trái rạ đã giảm đi một cách rất đáng kể.
Trái rạ, dù là thường có triệu chứng rất khó chịu, trong đại đa số các trường hợp, thường tự khỏi.
Tuy nhiên, bệnh này cũng có thể dẫn đến các biến chứng trầm trọng, ngay cả có khi dẫn đến tử vong. Khoảng một phần trăm trẻ em bị trái rạ có thể bị biến chứng viêm phổi, viêm não (encephalitis), hoặc bị biến chứng ở gan, hoặc nhiễm trùng da một cách nguy hiểm.
Thiếu niên và người lớn, nếu bị trái rạ, thường có nguy cơ cao hơn bị các biến chứng.
Sau khi khỏi bệnh, virus vẫn thường tồn tại một cách yên lặng trong hệ thống thần kinh của người bệnh suốt đời. Ðến khi nào đó, sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm, chúng sẽ “vùng lên,” gây ra bệnh giời leo (tiếng Mỹ gọi là zoster hay shingles).
Triệu chứng
Các triệu chứng của trái rạ thường xuất hiện khoảng 10 đến 21 ngày sau khi người bệnh bị lây.
Thường gặp, đầu tiên là sốt và uể oải. Sau đó là ban ngứa, với các nốt đỏ nhỏ. Các nốt đỏ này sẽ phồng lên thành mụn nước. Các mụn nước này thường tròn, với đường kính khoảng 5 đến 10 li (millimeters), (khoảng cỡ cục gôm ở đầu viết chì), có đáy màu đỏ (như hạt sương trên lá hoa hồng đỏ).
Các mụn nước này có thể xuất hiện khắp cơ thể, ngay cả ở trong miệng, họng, hoặc âm đạo.
Có người có thể chỉ có khoảng 50 mụn trở lại, có người có thể có vô số, không đếm nổi. Trong những ngày sau khi xuất hiện, mụn nước có thể ở các giai đoạn khác nhau, và cuối cùng tất cả đều đóng, rồi tróc vảy, mà không để lại sẹo (như trong bệnh đậu mùa).
Các mụn nước thường xuất hiện trong khoảng 3 đến 5 ngày, sau đó đóng và tróc vảy trong khoảng 7 đến 10 ngày sau đó.
Ở các trẻ khỏe mạnh, trái rạ thường nhẹ, da sẽ trở lại bình thường trong vòng hai đến bốn tuần. Ðôi khi có thể để lại vài vết sẹo mờ.
Nếu gãi, sẹo có thể sẽ nặng hơn nhiều.
Cần nhắc lại là, trong một số trường hợp nhỏ, trái rạ có thể dẫn đến các biến chứng trầm trọng, cần phải nhập viện, đôi khi có thể để lại biến chứng suốt đời, thậm chí cả tử vong.
Ðiều trị
Bác sĩ có thể dùng thuốc chống virus acyclovir (Zovirax) để hạn chế triệu chứng của bệnh trái rạ (thường chỉ cần) ở người lớn. Tuy nhiên, cần chú ý là thuốc này chỉ có hiệu quả nếu bắt đầu ngay trong 24 tiếng sau khi tiếp xúc với bệnh. Do đó, cha mẹ của các trẻ bị trái rạ nên gọi bác sĩ càng sớm càng tốt xem có cần dùng thuốc hay không.
Các trẻ em khỏe mạnh, nếu bị trái rạ, thường không cần dùng thuốc này. Vì các nghiên cứu cho thấy có vẻ như là thuốc không giúp được gì lắm. Các bác sĩ của các cháu sẽ là người quyết định việc có nên dùng thuốc không.
Trong đa số các trường hợp, thường chỉ cần trị triệu chứng ngứa ngáy của trái rạ và phòng ngừa các nơi mụn nước bể ra bị nhiễm trùng do các em gãi.
Một số chất dùng ngoài da như calamine lotion, oatmeal baths có thể giúp giảm ngứa. Nếu không đủ, bác sĩ có thể khuyên dùng thuốc uống giảm ngứa.
Nhớ cắt móng tay cho trẻ, và nhắc trẻ không gãi, để tránh nhiễm trùng. Nếu có dấu hiệu nhiễm trùng, người bệnh sẽ cần dùng trụ sinh (như Benadryl).
Nếu bị sốt, ta có thể dùng Tylenol (acetaminophen). Ðiều rất quan trọng, là không dùng aspirin ở trẻ em, vì thuốc này có thể gây ra hội chứng Reye (Reye's syndrome), là một tình trạng nguy cấp, có thể dẫn đến chết.
Cần nhắc lại, nhớ gọi và gặp bác sĩ sớm nếu bị nổi ban.
Nếu đã gặp bác sĩ rồi và được chẩn đoán là bị trái rạ rồi, cần gọi lại bác sĩ ngay, nếu bệnh nhân phát triển các triệu chứng sau:
-Sốt từ 103 độ F (Fahrenheit) trở lên.
-Ngứa không thể kiểm soát được.
-Mụn nước bị đỏ, sưng, có mủ.
-Mụn nước ở gần mắt.
-Nhức đầu dữ dội, lơ mơ, ói mửa (có thể là triệu chứng của biến chứng viêm não).
-Ho, khó thở (có thể là triệu chứng của biến chứng viêm phổi).
Ðể tránh lây lan, người bệnh nên (tạm thời) tránh tiếp xúc với những người khác trong nhà chưa có miễn nhiễm với bệnh, nhất là những người dễ bị lây hơn (như bị bệnh kinh niên, dùng các thuốc làm giảm sức đề kháng của cơ thể như steroid).
Nếu chưa từng bị trái rạ bao giờ, ta nên hỏi bác sĩ để được chích ngừa. Nếu là phụ nữ, đang dự định sẽ có thai, càng nên gặp bác sĩ càng sớm càng tốt để được chích ngừa trái rạ và các bệnh cần được chủng ngừa khác.
Thân mến,
Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng
Showing posts with label Kiến Thức. Show all posts
Showing posts with label Kiến Thức. Show all posts
Thursday, January 8, 2015
Làm trắng răng
Làm trắng răng
Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức
Từ ngày xửa ngày xưa, các cụ ta có một thói quen làm đẹp rất là dễ thương, đó là tục lệ nhuộm răng và đa số là nhuộm răng cho đen bóng như những hạt huyền. Vì “răng đen nhi nhí, ông Lý cũng khen” hoặc:“Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng răng đen.”
Tục nhuộm răng này vừa là làm đẹp vừa có thể là để che giấu những vết đổi màu trên răng. Tục này đã đi vào quá khứ, và ngày nay hàm răng trắng bóng, để nụ cười thêm duyên dáng là điều mà mọi người đều mong muốn. Cho nên, chẳng may nếu một vài chiếc răng lại có những vết vàng, vết nâu vết xanh xám thì ai ai cũng tìm cách tẩy xóa.
Và khoa học hiện đại đã giải đáp nhu cầu làm đẹp này.
Cấu tạo răng
Về cấu tạo, răng trắng là nhờ có một lớp men trắng phủ lên mặt ngoài của răng. Men được tạo thành bởi những ống nhỏ li ti cứng như xứ xếp thẳng đứng sát cạnh nhau để che trở cho răng, Dưới men là những ống nhỏ khác xen kẽ vào nhau gọi là ngà răng có màu vàng. Nhìn qua kính hiển vi, răng giống như một tổ ong.
Chất màu trên răng
Răng từ màu trắng chuyển sang màu vàng bằng hai cách:
a. Từ bản thân của răng như:
-Với tuổi già, men răng mòn và để lộ lớp dentin có màu vàng;
-Răng bị tổn thương do va chạm;
-Vì thuốc kháng sinh tetracycline mà cháu bé dùng hoặc từ bà mẹ mang thai, cho con bú mà uống thuốc này;
-Vì quá nhiều fluoride trong nước;
-Vì di truyền hoặc một vài bệnh bẩm sinh cũng khiến men răng đổi màu.
Giới chuyên môn gọi các loại chuyển mầu này là “mầu nội tại” mà bàn chải đánh răng không tẩy đi được.
b. Từ bên ngoài như:-Thuốc lá: Hút thuốc lá là rủi ro thông thường nhất làm cho răng chuyển sang màu ngà vì khói và chất nicotin của thuốc lá. Không những thế, khói thuốc là còn làm cho miệng hôi, viêm nướu răng và ung thư phổi.
-Nước uống có chất caffeine như cà phê, nước trà quá đặc hoặc nước trái cây blueberry, rượu vang đỏ đều dính vào răng khiến cho răng trở nên vàng.
-Một số dược phẩm chống dị ứng, trầm cảm, cao huyết áp đôi khi cũng tạo ra vết vàng trên răng.
-Chất sắt, fluoride cũng có tác dụng tương tự đối với răng.
-Không chịu đánh răng hoặc cà khe răng mỗi ngày khiến cho các chất màu bám vào răng;
-Dùng quá nhiều nước súc miệng có chất Peridex (Chlorhexidine gluconate) cũng làm răng đổi màu;
-Một số chất dùng để trám răng sâu làm bằng bạc có màu cũng có thể làm răng đổi màu.
Có hai loại chất tẩy
Hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm để tẩy những vết vàng bám trên mặt răng chứ khó mà loại bỏ được sự đổi màu của ngà răng.
Có thể làm răng trắng bằng các phương thức cổ điển như cạo răng, nhuộm răng, chà răng với bột than hoặc cau khô, nhưng hiện nay được thay thế bằng hóa chất.
-Hóa chất thường dùng là chất tẩy hydrogen peroxide và carbamide peroxide có thể làm mất vết màu thấm trong răng hoặc dính trên răng.
-Loại không có chất tẩy chỉ lấy đi vết màu trên răng.
Tại phòng mạch, nha sĩ thường dùng loại tẩy rửa có nồng độ peroxide cao từ 15-20%. Nha sĩ cũng có thể trao cho bệnh nhân các dung dịch peroxide để chấm lên vết màu hoặc để dán lên răng, rất dễ dùng. Ta cũng có thể mua các loại thuốc tẩy màu trên thị trường, nhưng nhớ đọc kỹ hướng dẫn để biết cách dùng cũng như để tránh tổn thương cho miệng.
Chất tẩy chỉ có tác dụng đối với răng thật chứ không có công dụng đối với răng giả, bọc chụp răng, răng trám.
Răng có màu vàng thường dễ dàng tẩy thành trắng hơn là răng có vết xám, nâu.
Trước khi tẩy răng, nên giảm tiêu thụ một số thực phẩm như nước trà, cà phê, rượu vang đỏ. Cũng nên tránh nước giải khát có hơi như soda làm mòn men răng. Nhớ đánh răng sau khi ăn.
Sau khi tẩy, răng trắng được bao lâu?
Tùy theo tình trạng răng của mỗi người, loại vết ố và loại chất tẩy nhưng thường thường răng chỉ trắng được vài tháng. Nếu tránh các chất gây ra vết ố thì răng trắng kéo dài được một năm, rồi lại phải tẩy lại.
Nhiều bác sĩ khuyên là không nên tẩy quá trắng: Chỉ hơi trắng hơn lòng trắng của mắt là đủ rồi.Tẩy răng ở nhà với ở nha sĩ có khác gì nhau không?Khác nhau ở chỗ chăm sóc và chất tẩy rửa.
-Tại phòng mạch, bác sĩ sẽ khám bệnh và chụp hình X-quang răng coi xem có bệnh thì điều trị trước khi tẩy răng.
-Khi tẩy răng bác sĩ cũng áp dụng vài cách để bảo vệ phần mềm ở miệng khỏi bị chất tẩy làm tổn thương.
Chất tẩy rửa ở nha sĩ cũng có nồng độ hydrogen peroxide cao hơn là thuốc mình mua tự do hoặc do bác sĩ bào chế cho mình.
Thuốc càng mạnh, áp vào răng càng lâu thì răng càng trắng, nhưng sau đó răng cũng ê ẩm hơn một chút.
Thêm vào đó, “miếng thuốc” tẩy răng cũng vừa hàm răng của thân chủ, chứ không như hàng làm sẵn “one size fit all” mà mình mua.
Ðôi khi bác sĩ cũng rọi đèn hoặc hơi nóng để chất tẩy ngấm vào răng mau và nhiều hơn.
Những ai không nên tẩy trắng răng?
-Trẻ em, phụ nữ có thai.
Không nên tẩy răng ở trẻ em dưới 15 tuổi và phụ nữ đang có thai.
Ở trẻ em, ống tủy răng hơi lớn và đang phát triển cho nên rất nhạy cảm với chất tẩy khi bị kích thích.
Với phụ nữ có thai hoặc cho con bú sữa mẹ thì các bác sĩ nha khoa đều khuyên nên đợi sau khi sanh, vì các chất tẩy rửa có thể vào máu người mẹ và ảnh hưởng tới con. Ðúng ra thì cho tới bây giờ, chưa ai biết ảnh hưởng của hóa chất với thai nhi như thế nào, cho nên nha sĩ đều dè dặt.
-Bệnh nướu, sâu răng, chân răng lộ.
Khi nướu răng bị tổn thương nên hoãn tẩy vì hóa chất có thể làm nướu hư nhiều hơn.
Răng sâu cần được trám trước khi tẩy để tránh hóa chất chui vào lỗ sâu. Vả lại, chân răng đã lộ không mòn men thì cần gì tẩy trắng.
Nên để ý là bảo hiểm sức khỏe không trả tiền cho dịch vụ làm trắng răng.
Nhuộm răng đen
Tiện đây, xin tìm hiểu cách nhuộm răng của tiền nhân.
Tục nhuộm răng đen xuất hiện từ thời các Vua Hùng.
Sử sách ghi lại rằng: Trong một dịp đi sứ tại nhà Chu, sứ thần Văn Lang có “báo cáo” với vua nhà Chu rằng “Chúng tôi có tục ăn trầu để khử mùi ô uế và nhuộm cho răng đen...” Tục này vẫn còn thịnh hành cho tới nửa đầu của thế kỷ 20, nhất là ở miền Trung và Bắc Việt Nam.
Thường thường từ thuở 12, 13 tuổi là trai gái đã bắt đầu nhuộm răng rồi. Nhuộm răng là cả một việc làm khá cầu kỳ, tốn thời gian và người muốn có răng đen cũng trải qua cả mấy tuần lễ đau đớn khó chịu trong miệng. Nhưng răng đen được ca tụng như một nét đẹp đặc biệt như là:
“Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bỏ công trang điểm má hồng răng đen.”
Hoặc:
“Năm quan mua lấy miệng cười,
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.”
Cho nên họ cắn răng chịu đựng.
Vật liệu nhuộm răng gồm có bột nhựa cánh kiến, nước cốt chanh, phèn đen và nhựa của gáo dừa đốt cháy.
Cụ Phan Kế Bính tóm lược cách nhuộm răng như sau:
“Trước hết dùng các cánh kiến tán nhỏ, vắt nước chanh để kín 7 ngày, chờ tối đi ngủ phết thuốc ấy vào hai mảnh lá dừa hoặc mo cau rồi ấp vào hai hàm răng. Trong khi nhuộm răng thì phải kiêng nhai. Nhuộm như thế 5, 7 ngày cho răng đỏ già ra màu cánh gián thì bôi thuốc răng đen. Thuốc răng đen làm bằng phèn đen trộn với cánh kiến, nhuộm 1, 2 miếng là đen kịt lại, đoạn lấy cái sọ dừa để con dao mà đốt cho chảy nhựa ra, lấy nhựa ấy phết vào răng cho không phải ra được nữa.”
Răng nhuộm như vậy sẽ bền chắc suốt đời người, không còn bị sâu hoặc mòn. Có nhiều cụ bà tám chín chục tuổi mà răng vẫn còn chắc, vẫn đen nhánh như những hạt huyền.
Có lẽ các khoa học gia ngày nay cũng nên tìm hiểu thêm về kỹ thuật nhuộm răng này. Nhưng thay vì nhuộm đen, ta có thể nhuộm trắng, vừa đẹp vừa bền.
Monday, March 26, 2012
Khi nào các bộ phận trong cơ thể con người bắt đầu thoái hóa?
Khi nào các bộ phận trong cơ thể con người bắt đầu thoái hóa?
Già là một điều không ai tránh khỏi. Hiện nay các viện nghiên cứu y khoa đã cho biết một cách chính xác các bộ phận trong cơ thể của con người bắt đầu thoái hóa từ lúc nào. Các bác sĩ người Pháp đã tìm thấy chất lượng tinh trùng bắt đầu suy thoái từ tuổi 35, bởi thế khi người đàn ông 45 tuổi thì một phần ba số lần mang thai sẽ dẫn đến sẩy thai. Angela Epstein đã viết trong Daily Mail, tuổi của các bộ phận trong cơ thể bắt đầu suy thoái như sau :
Não bắt đầu suy thoái lúc 20 tuổi .
Khi chúng ta trưởng thành, các tế bào não bị giảm dần. Và não cũng teo nhỏ lại. Khởi đầu con người có 100 tỉ tế bào não, nhưng đến tuổi 20 con số nầy giảm dần, và đến tuổi 40 con người mất mỗi ngày 10.000 tế bào ảnh hưởng rất nhiều đến trí nhớ và có tác dụng rất lớn đến tâm sinh lý người già...
Ruột bắt đầu suy giảm từ tuổi 55.
Ruột tốt có sự cân bằng giữa các vi khuẩn có ích và có hại. Vi khuẩn có ích sẽ giảm đi đáng kể sau tuổi 55, đặc biệt ở phần ruột già. Sau 55 tuổi bộ tiêu hóa bắt đầu xấu đi và sẽ gây hại cho các bệnh đường ruột. Táo bón là một bệnh thông thường của tuổi già, cũng như dịch vị từ bao tử, gan, tuyến tuỵ, ruột non bị suy giảm .
Bọng đái bắt đầu suy thoái từ tuổi 65 .
Người già thường mất kiểm soát bọng đái Nó bắt đầu co lại đột ngột, ngay cả khi không đầy. Phụ nữ dễ gặp trục trặc này hơn khi chấm dứt kinh nguyệt. Khả năng chứa nước tiểu của bọng đái một người già chỉ bằng nửa so với người trẻ tuổi, khoảng 2 cốc ở tuổi 30 và 1 cốc ở tuổi 70. Điều này khiến người già phải đi tiểu nhiều hơn, và dễ nhiễm trùng đường tiểu.
Vú bắt đầu thoái hóa từ năm 35 tuổi .
Khi người đàn bà đến 30 tuổi thì vú mất dần các mô và mỡ, sự đầy đặn và kích cỡ của bộ vú bị suy giảm. Khi 40 tuổi núm vú bị teo lại và vú thòng xuống.
Phổi lão hóa từ tuổi 20.
Sụn sườn vôi hóa, lồng ngực biến dạng, khớp cứng ảnh hưởng tới thở, nhu mô phổi giảm đàn hồi, giãm phế nang. Dung tích của phổi bắt đầu giảm dần từ tuổi 20. Ðến tuổi 40 có nhiều người đã bắt đầu khó thở vì các cơ bắp và xương sườn buồng phổi bắt đầu xơ cứng .
Giọng nói bắt đầu yếu và khàn kể từ tuổi 65.
Phụ nữ có giọng khàn và nhỏ trong khi đàn ông giọng cao và nhẹ
Mắt lão hóa từ năm 40
và phần lớn phải mang kiếng, không còn nhìn rõ một vật ở xa. Khả năng tập trung của mắt kém hơn do cơ mắt yếu hơn.
Tim lão hóa từ tuổi 40.
Khối lượng cơ tim giảm. Tuần hoàn nuôi cơ tim cũng giảm, suy tim tiềm tàng, huyết áp tăng dần...Sức bơm của tim giảm dần vì các mạch máu giảm sự đàn hồi. Các động mạch cứng dần và bị mỡ đóng vào các thành mạch máu cung cấp cho tim cũng bị giảm bớt. Ðàn ông 45 tuổi và đàn bà 55 dễ bị đau tim.
Gan lão hóa từ năm 70.
Chức năng chuyển hóa và giải độc giảm. Tuy nhiên gan là một bộ phận gần như không chịu khuất phục tuổi tác. Người ta có thể ghép gan của một ông già 70 tuổi cho một người 20 tuổi.
Thận lão hóa năm 50.
Số đơn vị lọc chất thải khỏi máu bắt đầu giảm xuống ở tuổi trung niên.
Tuyến tiền liệt lão hóa vào năm 50.
Hệ thống sinh dục nam gồm có: tinh hoàn và bộ phận sinh dục phụ như đường dẫn tinh, tuyến tiền liệt, tuyến hành niệu đạo, túi tinh và dương vật.Tuyến tiền liệt thường lớn dần theo tuổi tác. Khi tuyến tiền liệt tăng kích thước sẽ ép vào niệu đạo và bàng quang, gây khó khăn cho tiểu tiện. Nó gây nên triệu chứng tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần, tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu và tiểu khó.
Xương lão hóa hóa vào tuổi 35.
Cho đến giữa những năm 20 tuổi, mật độ xương vẫn còn tăng. Trẻ em xương lớn rất nhanh, cứ mỗi 2 năm lại thay đổi toàn bộ xương cũ, nhưng đến tuổi 35 thì xương đã lão, hiện tượng mất xương bắt đầu như một quá trình già cả tự nhiên.
Răng suy từ tuổi 40.
Răng bị hao mòn. Dễ bị bệnh nha chu. Niêm mạc bị teo dần
Bắp thịt lão hóa từ năm 30 .
Thông thường bắp thịt khi bị lão hoá thì được tái tạo ngay, nhưng đến tuổi 30 thì tái tạo ít hơn là lão hóa. Ðến tuổi 40, mỗi năm bắp thịt bị sút giảm từ 0.5 đến 2 %. Vì thế người già khó giữ thăng bằng, trở thành chậm chạp, dễ bị ngã và gẫy xương.
Nghe giảm đi kể từ giữa năm 50.
Rất nhiều người bị lãng tai kể từ năm 60
Da suy giảm kể từ năm 20.
Chúng ta đã giảm dần việc sản xuất chất keo dính của da từ giữa tuổi 20. Việc thay thế các tế bào chết cũng chậm dần.
Vị giác và khứu giác giảm từ năm 60.
Thông thưuờng chúng ta có thể nếm được 100.000 vị trên lưỡi. Các vị này chúng ta chỉ nếm được phân nửa khi già và đến tuổi 60 thì không còn ngửi và nếm một cách chính xác được nữa
Sinh sản mất khả năng từ năm 35.
Khả năng sinh nở của phụ nữ bắt đầu giảm sau tuổi 35, vì số lượng và chất lượng trứng trong tử cung giảm xuống.
Tóc lão hóa từ tuổi 30.
Thông thường cứ 3 năm thì tóc cũ sẽ được thay thế toàn bộ tóc mới. Và đến năm 35 tuổi thì tóc không còn đen nhánh nữa mà ngả màu đen xám và rụng dần đi .
Làm thế nào để làm chậm sự lão hóa ?
Già không phải là một bệnh nhưng già tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phát triển; cần chú ý một số đặc điểm sau:
- Người già thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, có bệnh dễ phát hiện, nhưng cũng có bệnh rất kín đáo, tiềm tàng, nguy hiểm.
- Triệu chứng ít khi điển hình, không ồ ạt, không rõ rệt, nên khó chuẩn đoán, dễ sai lạc nếu ít kinh nghiệm.
- Khả năng phục hồi sức khỏe sau các trận ốm thường chậm hơn so với người trẻ, nên sau điều trị phải có thời gian an dưỡng.
Một số biện pháp làm giảm tốc độ lão hóa:
Học thuyết âm dương của y học cổ truyền chứng minh con người là một chỉnh thể giữa âm dương, giữa khí và huyết. Luôn luôn thăng bằng với nhau từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong theo một quy luật nhất định, để duy trì sự sống của con người được bền vững dài lâu. Vì thế muốn giảm tốc độ lão hóa cần phải:
Về tư tưởng luôn luôn lạc quan yêu đời, chủ động gạt bỏ những cái làm ảnh hưởng đến bộ não, hạn chế tối đa nỗi cô đơn, giải quyết tốt nhất mối quan hệ xã hội và gia đình, có triết lý sống đúng; phải chú ý cả 3 vấn đề: lẽ sống, lối sống và hành động sao cho khoa học văn minh để loại trừ 7 nguyên nhân gây bệnh của Đông y là : hỷ, nộ, ưu, tư, bi, kinh, khủng.
Muốn được thảnh thơi phải có kiến thức, phải có hiểu biết để nhìn nhận vấn đề sao cho đúng đắn qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình để làm chủ được mình và giáo dục cho gia đình, con cháu giảm các nỗi bực dọc và tự chăm lo cho mình.
Muốn được thảnh thơi phải có kiến thức, phải có hiểu biết để nhìn nhận vấn đề sao cho đúng đắn qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình để làm chủ được mình và giáo dục cho gia đình, con cháu giảm các nỗi bực dọc và tự chăm lo cho mình.
Thường xuyên luyện tập đều đặn về trí tuệ và thể lực như đọc sách báo, nghe đài, xem TV... đồng thời tập thể dục thể thao, đi bộ, tập thở, tĩnh tâm thư giãn, v.v... phù hợp với hoàn cảnh và sức khỏe từng người.
Sinh hoạt điều độ, không làm gì quá sức bình thường, giữ gìn trạng thái cân bằng giữa ngủ và nghỉ, giữa ăn và làm, giữa trí óc và chân tay, giữa trong nhà và ngoài trời, giữa lười và chăm, v.v... cũng rất quan trọng.
Ăn uống đúng và đủ theo khả năng của mình, không nên nghiện bất cứ thứ gì, hạn chế thịt nhất là mỡ, ăn nhiều rau quả tươi, giảm chất bột, giảm bánh kẹo, bảo đảm cân bằng thức ăn âm và dương, giữ người không béo và cũng không gầy. Nên nhớ con người là giống ăn ngũ cốc, nên thức ăn cho người phải 80% là ngũ cốc còn 20% là rau quả và các thứ khác, không nên ăn quá no, người già rất cần đạm ở đậu tương, vừng lạc, tôm cua, ốc hến...
Cần có môi trường sống tự nhiên tốt, phần lớn các cụ sống 100 tuổi trở lên đều ở vùng núi, ở nông thôn còn ở thành phố thì rất ít và gốc cũng không phải thành thị. Hiện nay môi trường sống đang bị tàn phá nghiêm trọng đó là tự hủy hoại mình (chặt cây, phá rừng, chất thải, phân hóa học, thuốc trừ sâu...) đã làm mất đi cảnh thanh bình của thiên nhiên, là điều cũng nên hết sức tránh.
Kiên trì áp dụng 10 bài học về sức khỏe của Nhật Bản, đất nước được mệnh danh là "vương quốc của tuổi thọ" vì có tuổi thọ cao nhất thế giới hiện nay.
10 bài học đó là:
- Bớt ăn thịt, ăn nhiều rau
- Bớt ăn mặn, ăn nhiều chất chua
- Bớt ăn đường, ăn nhiều hoa quả
- Bớt ăn chất bột, ăn nhiều sữa
- Bớt mặc nhiều quần áo, tắm nhiều lần
- Bớt đi xe, năng đi bộ
- Bớt phiền muộn, ngủ nhiều hơn
- Bớt nóng giận, cười nhiều hơn
- Bớt nói, làm nhiều hơn
- Bớt ham muốn, chia sẻ nhiều hơn
Những bài học trên có tác dụng rất lớn đối với những người bị tăng huyết áp, bệnh tim mạch, ung thư dạ dày, viêm gan...
Biết cách sống, ta có thể làm chậm được quá trình lão hóa, kéo dài được tuổi thọ, có thể điều chỉnh được chiếc đồng hồ sinh học trong con người chúng ta chạy chậm lại, ta cũng có thể giữ bộ máy cực kỳ tinh vi của ta được bền vững lâu dài hơn.
Subscribe to:
Posts (Atom)