Showing posts with label Sưu Tầm. Show all posts
Showing posts with label Sưu Tầm. Show all posts

Thursday, May 17, 2018

Bà Mẹ Tây


Năm tôi đến đất nước này, chu kỳ suy thoái kinh tế bắt đầu. Việc làm hiếm hoi, nhưng chính phủ vẫn mở rộng vòng tay nhân ái tiếp nhận người tỵ nạn. Cậu có bà xã giỏi giang, đi làm nuôi chồng con. Cậu chỉ lo nội trợ, đưa đón con cái đi học, có thì giờ rộng rãi dồi mài kinh sử. Còn tôi, độc thân tại chỗ, vợ con còn kẹt lại VN, một cảnh hai quê. Vừa mong mau chóng ổn định cuộc sống vừa mong đủ điều kiện tài chánh bảo lãnh gia đình.

Chưa bao giờ tôi nghĩ có ngày phải đi ăn mày chính phủ Canada. Mỗi tuần sắp hàng ngửa tay nhận chi phiếu bảy chục đô la, rồi còn bị cô thư ký người Việt nói xỏ xiên, thúc giục tìm việc. Tôi đã cảm nhận tất cả ê chề nhục nhã của kiếp tha hương.

Rất may mắn, tôi đã gặp cậu và được cố vấn nên sau vài lần xin việc bị từ chối khéo, tôi điền đơn tại bệnh viện Montford theo đúng lời cậu chỉ dẫn. Lý lịch khai rất gọn, phần học vấn bỏ trống, không ghi tốt nghiệp đại học VN. Xin làm Pharmacy Attendant, công việc sai vặt trong khoa dược.

Bà trưởng phòng nhân viên bệnh viện đọc hồ sơ, ngước mắt nhìn tỏ vẻ thương hại rồi nói, được rồi, anh cứ về, khi nào có chỗ trống sẽ gọi phỏng vấn.

Vừa định đứng dậy thì bà ra dấu cho tôi ngồi xuống, ngập ngừng... Tôi biết bên hospice, nhà an dưỡng của bệnh nhân cận tử, đang cần một orderly nam, tức y công đàn ông. Nếu anh không ngại tôi sẽ giới thiệu. Đang đói việc, tôi bằng lòng ngay, bất cứ việc gì.

Y tá trưởng của hospice vui mừng đón nhận tôi.

Bà cho biết công việc không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự nhẫn nại hơn bình thường. Chỉ phục vụ một bệnh nhân đặc biệt và khó tính. Gia đình bệnh nhân này là ân nhân của bệnh viện, đã hiến tặng toàn bộ xây cất và các trang thiết bị cho hospice nên tên của người chồng quá cố, "J.D. Steinberg" được vinh danh trên bảng đồng.

Bà thành thật cho biết đã có 2 nữ y công bị trả lại vì bệnh nhân không hài lòng và thêm một nữ nữa bỏ việc vì không chịu nổi áp lực.

Tuy nhiên lương bổng rất hậu hĩnh. Bệnh nhân này sẵn sàng trả thêm tiền thưởng tương đương với tiền lương của bệnh viện.

Bà muốn thay đổi, đề nghị tuyển nhân viên nam, hy vọng nam có sức chịu đựng tốt hơn nữ.

Bệnh nhân là bà Steinberg, khoảng gần bảy chục tuổi, bị ung thư buồng trứng, đã di căn, giai đoạn cuối. Đẹp lão, mập mạp, tướng mệnh phụ. Bà tiếp tôi lạnh lùng, sau khi cô chuyên viên trang điểm rút lui. Hỏi vài câu vắn tắt lấy lệ, rồi cho tôi kiếu.

Quả thật công việc rất nhàn hạ, nhưng không thơm tho. Bác sĩ, y tá thăm bệnh và cho thuốc men theo thời khoá biểu. Cô quản gia kiêm thư ký công ty của gia đình trình diện vào buổi trưa mỗi ngày, đem thức ăn khoái khẩu của bà và quần áo mới. Tôi chỉ giúp bà làm vệ sinh tiêu tiểu buổi sáng, ngay trên giường và đổ phân vào cầu. Buổi chiều, sửa soạn bồn tắm, giúp bà làm vệ sinh thân thể và đẩy xe đưa bà đi dạo. Ngoài ra, chùi rửa phòng, thay bọc trải giường, mang quần áo chăn mền qua phòng giặt ủi...v...v... Thỉnh thoảng ghé mắt xem bà có cần sai bảo gì không. Khẩn cấp thì phải chạy tìm y tá bác sĩ trực.

Tôi được sắp xếp cho ở góc cuối phòng, ngăn bằng chiếc màn kéo, đủ kê chiếc giường đơn, ghế nằm và bàn viết. Một ngày chỉ thật sự làm việc độ 3 hoặc 4 tiếng, ăn uống ở câu lạc bộ. Thời giờ quá dư thừa nên tôi mượn sách chuyên môn của thư viện đọc, mơ một ngày nào đó sẽ lấy lại được bằng hành nghề.

Một buổi tối, bà rên khò khè đau đớn, tôi chạy lại thì nghe bà quát, đi lấy cho ta cái "donut" ngay. Ta cảm thấy khó chịu quá!

Tôi cuống quít nói, thưa bà giờ này quá khuya, e không có tiệm bánh donut nào mở cửa, bà có thể chờ đến sáng sớm mai không?

Bà nổi quạu, phán, đồ ngu! Xuống bảo y tá trực đưa.

Tôi răm rắp chạy báo cáo bà y tá già. Bà cười ngặt nghẽo, đưa cho tôi cái vòng cao su mầu cam trông giống như ruột xe vespa, bảo, đấy, donut là cái này này.

Tôi vỡ lẽ, té ra donut cũng là tên gọi của cái vòng đệm cao su, dùng để kê dưới bàn tọa cho êm.

Mấy ngày sau, khi đã hơi khoẻ, bà ngoắc tôi lại, ra lệnh, ê thằng Tầu con, xuống kêu con nhỏ làm tóc lên chải đầu cho ta. Hôm nay ta có khách lại thăm.

Bị chạm nọc nhưng tôi vẫn đủ bình tĩnh, khẽ thưa, xin bà đừng gọi tôi là Tầu con. Tôi đã 36 tuổi rồi và là người Việt Nam không phải Tầu.

Trái với sự mong đợi của tôi, bà tỏ vẻ thân thiện, ngồi thẳng dậy, tròn mắt, hỏi lại, Việt Nam? Việt Nam? Con trai của ta chiến đấu ở VN và đã mất tích từ năm 1970, cũng trạc tuổi của mi.

Tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Ngờ ngợ có sự liên quan tới Bác sĩ John Steinberg mà tôi quen biết khi còn trong quân đội.

Kể từ đó, mỗi khi có dịp, tôi gạ gẫm bà kể thêm về người con trai. Bà rất hứng khởi.

Sự nghi ngờ ban đầu đã dần dần sáng tỏ. Gom góp các chi tiết và đối chiếu các sự kiện, tôi đã chắc đến 99.99% John Steinberg, con trai của bà, và BS John Steinberg, bạn tôi, là một người bạn quí.

*

Theo bà, John là một đứa trẻ có nhiều cá tính ngay từ nhỏ. Thông minh, bướng bỉnh, tinh thần tự lập cao. Nhiều tự ái, nóng tính, hơi cố chấp và đặc biệt xung khắc với cha.

Ông Steinberg muốn hướng chàng thành một doanh gia. John, trái lại, thần tượng BS Albert Schweitzer. Ước vọng trở thành thầy thuốc giỏi, từ bỏ thế giới văn minh, đến các xứ nghèo Phi châu, mang tài năng và nhiệt tâm phục vụ không điều kiện.

Sau khi tốt nghiệp y khoa Mc Gill, lúc chuẩn bị nội trú chuyên ngành tại bệnh viện Ottawa thì xảy ra một cuộc đấu khẩu dữ dội giữa hai cha con. John giận cha, bỏ qua Mỹ, tình nguyện nhập ngũ. Được huấn luyện quân sự tại Fort Bragg và tu nghiệp chuyên môn tại Womack Army Medical Center NC. Y sĩ Đại uý John Steinberg sau đó được gửi qua Việt Nam, bổ sung toán quân y thuộc liên đoàn 5 lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ, đóng tại Nha Trang.

John vẫn thư từ liên lạc với bà mẹ đều đặn. Cho đến một buổi chiều ảm đạm mùa thu năm 1970, ba sĩ quan đồng ngũ của binh chủng gõ cửa báo tin con bà đã mất tích khi đang thi hành nhiệm vụ, được ghi vào danh sách M.I.A.

Ông Steinberg bị nỗi hối hận dầy vò, tự đổ lỗi cho chính mình, đã đưa đẩy con trai vào chỗ chết. Ông qua đời ba năm sau.

*

Thời gian John công tác, tôi đang làm việc tại bệnh xá gia đình binh sĩ cũng đồn trú Nha Trang.

Chúng tôi cùng đi làm dân sự vụ thường xuyên tại các bản thượng hẻo lánh nên quen biết rồi thân nhau. Thỉnh thoảng tụ tập ăn uống nhậu nhẹt tại các quán bờ biển hoặc đi nghe nhạc phòng trà.

Khi tin John tử trận bay đến phòng làm việc, tất cả ban quân y chúng tôi đều bàng hoàng. John và toán dân sự vụ Việt Mỹ chết bỏ xác khi máy bay trực thăng trục trặc kỹ thuật, đáp tạm xuống bãi đất hẹp gần nhánh sông chảy xiết. B40 bắn rớt ngay lúc vừa cất cánh trở lại. Duy có một y tá VN tên Công thoát hiểm một cách kỳ diệu. Hắn ngụp lặn, bơi ngược dòng nước, băng rừng suốt đêm đến được nơi an toàn.

Quá hoảng loạn trong nỗi kinh hoàng tột độ, y tá Công bị hậu chấn thương nặng, chuyển về khoa tâm thần tổng y viện Cộng Hoà điều trị vài tháng rồi được cho giải ngũ. Hắn vẫn đến xin thuốc an thần và thuốc ngủ đều đặn nên từ đó anh em đổi biệt danh "Công ngủ" thành "Công không ngủ".

Những năm cuối của thập niên 70 và đầu thập niên 80, tôi hay lang thang khắp chợ trời. Tình cờ gặp lại "Công không ngủ". Hắn đã lột xác, trông bảnh bao, da dẻ hồng hào, ra dáng công tử vườn. Hắn khoe buôn bán thuốc tây, thu nhập khấm khá. Hắn bỏ một buổi buôn bán, mời tôi đi nhậu ở tiệm ăn sang trọng trên đường Nguyễn Huệ. Đãi rượu Martell và thuốc thơm ba số. Lúc đã ngà ngà, hắn nhắc lại chuyện cũ. Bật mí tất cả những gì chưa từng bật mí.

*

Chiếc trực thăng chao đảo vì phi công bị B40 xuyên nát cổ. Đủ loại súng thi nhau nhả đạn, mọi người nhốn nháo chen nhau nhảy xuống. Đạn đan tròng tréo, có người rớt lịch bịch, có người nằm xuống khi chân chưa chạm đất. Bác sĩ Steinberg cùng hắn và vài người nữa chạy thẳng xuống sông. Các người kia bơi theo dòng nước. Ông bác sĩ Mỹ to cồng kềnh, bơi hoặc lặn cũng không ổn nên tìm chỗ ẩn nấp dưới đám lau sậy. Vốn là dân xóm Cồn, giỏi bơi lội, lại nhỏ con nên "Công không ngủ" nhanh như chớp, phóng xuống giữa dòng, vớ một ống sậy dài, ngậm thở, lặn ngược dòng, đánh lạc hướng của nhóm du kích chạy xuôi trên bờ đang truy đuổi từng người. Nghe tiếng súng AK nổ ròn rã, hắn biết những bờ bụi chắc chắn là những mục tiêu bị nhắm bắn. Hắn tự khen mình thông minh, không trốn theo ông bác sĩ cũng không bơi xuôi giòng. Rất có thể nhiều người đã lãnh đủ những tràng đạn vừa qua.

Đợi khi bóng dáng đám du kích đã hoàn toàn mất hút, hắn bơi đến chỗ ông bác sĩ thăm dò. Vùng máu loang lổ đang lan rộng chứng tỏ ông đã trúng đạn. Sờ mũi, vạch mắt, nghe tim, biết ông đã chết, hắn chỉ kịp mở nút gài túi áo trên lấy chiếc ví dầy cộm, lột chiếc đồng hồ trên tay.

Tiếng đám du kích vui cười nghe rõ dần, có lẽ họ trở lại thu nhặt chiến lợi phẩm. Hắn đẩy xác ông bác sĩ ra giữa dòng để gây sự chú ý, giúp hắn có thêm thì giờ lặn ngược dòng trốn càng xa càng tốt.

Nằm ếm dưới nước, chờ trời tối, hắn bước nhanh vào khu cây cối rậm rạp, nhắm hướng sao đi tới. Rạng sáng, hắn gặp một người đàn bà thượng đeo gùi sau lưng, địu con phía trước đi làm rẫy. Hắn bập bẹ vài tiếng thượng học được, xin chỉ đường đến đồn bót gần nhất.

Bài học mưu sinh thoát hiểm, cộng với may mắn cùng sự giúp đỡ của người dân tốt bụng đã đưa hắn trở về bình yên.

Lợi dụng việc sống sót hy hữu sau tai nạn, hắn đã đóng kịch rất khéo, giả bệnh, qua mặt được mọi người và giải ngũ.

Hắn cho biết trong chiếc ví của ông bác sĩ, ngoài số tiền mặt khá lớn, đủ để hắn sửa sang nhà cửa và mua chiếc xe Honda 90 đời mới, còn có một lá thư, một tấm hình, vài thứ giấy tờ linh tinh.

Hắn cho tôi địa chỉ nếu muốn đến xem. Tôi không có dịp vì còn mải lo chuyện vượt biển.

Sự sống của bà Steinberg kéo dài hơn ước tính của các bác sĩ. Bà cho là lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe và hy vọng phép mầu nhiệm sẽ đến qua ơn cứu rỗi.

Một tuần trước sinh nhật, bà điện thoại cho hai cô con gái lớn nhắc nhở. Năn nỉ các con cháu sẽ đến và ở chơi với bà một buổi. Bà dặn tôi đến ngày đó phải thu dọn căn phòng trống kế bên sạch sẽ, kê thêm bàn ghế và phụ giúp nhà hàng chăm lo phần ẩm thực.

Tôi chợt có ý nghĩ nhân dịp này sẽ tặng bà một món quà sinh nhật bất ngờ. Đánh điện tín nhờ vợ tôi mang đến "Công không ngủ", hẹn giờ ra bưu điện nói chuyện điện thoại viễn liên.

Tôi ngỏ ý muốn mua cái ví của BS Steinberg cùng tất cả các thứ trong đó. Thỏa thuận xong giá cả, tôi yêu cầu hắn tạm thời fax ngay cho tôi những thứ có trong chiếc ví.

Ngày hôm sau, chỉ nhận được bản fax của lá thư và tấm ảnh, nhìn không rõ lắm nhưng chữ có thể đọc mò được.

Tiền thì hắn nhận đủ nhưng chiếc ví không bao giờ được gửi. Về sau nghe chú hắn nói, hắn đang tìm đường vượt biên và cái ví sẽ là lá bùa khi xét ưu tiên định cư Mỹ.

Sau nhiều năm không ai nhận được tin tức về chuyến tầu của hắn. Có lẽ cái ví cũng theo hắn định cư dưới lòng đại dương.

Buổi sáng sinh nhật, bà dậy thật sớm tuy cả đêm trằn trọc. Người làm tóc, người trang điểm bận tíu tít. Người ta thay cho bà một bộ đầm sang trọng. Trông bà tươi tỉnh, cười nói huyên thuyên, không ai nghĩ rằng đó là một bệnh nhân sắp từ giã cõi trần. Bà nói đã lâu lắm rồi, không thấy mặt mấy đứa cháu ngoại, không biết chúng nó cao lớn thêm và xinh đẹp như thế nào. Bà tưởng tượng sẽ ôm từng đứa, sẽ phủ mưa hôn trên từng phân vuông của những khuôn mặt thiên thần. Sau đó nếu Chúa có bắt đi ngay bà cũng an lòng. Chỉ tưởng tượng thôi mà cảm xúc đã dâng trào trên niềm hạnh phúc ảo.

Các tiếp viên nhà hàng mang thức ăn bầy biện đẹp mắt, chiếc bánh sinh nhật hấp dẫn đặt giữa bàn. Tất cả kiên nhẫn chờ được phục vụ.

Suốt từ sáng đến quá trưa, bà bồn chồn, đứng ngồi không yên. Vẫn không thấy con cháu xuất hiện. Toàn thể nhân viên hospice không chờ đợi được nữa, bàn nhau tụ tập vây quanh bà, vỗ tay hát bài mừng sinh nhật. Bà gắng gượng ngồi nghe đến câu cuối, xua tay ra dấu mệt mỏi, để nguyên quần áo nhờ tôi đỡ lên giường.

Cô thư ký lăng xăng lên xuống, liên tục điện thoại khắp nơi, tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Buổi chiều, cô trở lại buồn bã báo tin, cả hai gia đình của hai con gái bà đang vui chơi ở Disney World Orlando Florida từ vài ngày nay.

Bà Steinberg suy sụp tinh thần thấy rõ. Không ăn uống. Đóng cửa, không tiếp bất cứ ai. Tôi trở thành liên lạc viên duy nhất của bà với bên ngoài. Rất khó khăn ép bà uống thuốc đúng giờ.

Tối hôm đó, cơn đói đánh thức, bà sai tôi mua một tô súp gà và ly sữa. Tôi mua thêm một chiếc bánh chocolate donut và một cây đèn cầy. Bà chỉ húp vài muỗng súp và một phần ly sữa. Tôi mở bao lấy chiếc donut để trên đĩa giấy, thắp cây đèn cầy, bưng về phía bàn ngủ. Run run hát nho nhỏ, happy birthday to you, happy birthday to you, happy birthday to Mrs Steinberg...

Bà há hốc miệng ngạc nhiên, im lặng vài khoảnh khắc rồi quay mặt vào tường. Tôi ngỡ bà phản ứng giống như khi nghe nhân viên bệnh viện hát chúc mừng trước đó. Ngờ đâu bà quay lại với đôi mắt ướt, giơ hai tay ôm chầm lấy tôi. Líu lưỡi cám ơn, cám ơn. Bà thổi đèn cầy rồi ăn hết chiếc bánh bình dân một cách ngon lành, nói, đây mới chính là cái "donut" mà ta muốn. Bà cám ơn tôi lần nữa, đã cho bà một sinh nhật tuyệt vời và độc đáo.

Bà vui vẻ trở lại nhanh chóng. Kể đủ mọi chuyện ngày cũ, toàn những chuyện về John. Trong ba người con chỉ có John nhớ sinh nhật của bà, dù đi đâu xa cũng quay về vào ngày ấy. Bà nhất định cho rằng, bằng cách nào đó, chính John đã mượn tôi thực hiện sáng kiến sinh nhật donut.

Tôi nói có một món quà sinh nhật và trao cho bà chiếc phong bì đựng bản fax của lá thư và tấm hình. Thêm một lần ngạc nhiên thích thú, bà mở ra. Mới lướt qua tấm hình và đọc vài hàng của lá thư, bà thở hổn hển. Những thứ này ở đâu ở đâu ra? Đúng là nét chữ của ta, đây là lá thư ta gửi John cám ơn lời hỏi thăm sức khỏe khi ta bị té gẫy chân và cho biết tình trạng đã ổn định. Làm sao mi có được? Nói ngay, nói ngay! Còn tấm hình mờ nhưng ta biết đó là hình chụp ta và con chó Buddy.

Tôi cho bà biết chuyện thật đời tôi, tất cả những gì tôi nghe về bạn quá cố của tôi, lúc còn sống, lúc lâm nạn và tại sao tôi có được những thứ đó.

Bà nhờ tôi kê gối đẩy lưng cao lên. Đọc kinh tạ ơn Chúa. Bà càng tin rằng John đã nhập vào tôi và mang thông điệp của tin mừng đến cho bà.

Bà đã mệt lắm rồi. Linh tính những ngày giờ cuối cùng đã điểm, tôi ở lại bên cạnh bà.

Thấy bà không ngủ, tôi hỏi có cần gọi y tá không? Bà không trả lời, cầm tay tôi đặt lên ngực phía trái tim, cặp mắt lạc thần, nhìn vào hư không, nói lẩm bẩm như người mộng du.

Baby John của mẹ, con có biết 12 năm nay không có ngày nào mẹ ngưng thương nhớ con? Mẹ nhớ từ tiếng con khóc lúc chào đời..., mẹ nhớ lúc con chập chững những bước đi.... Mẹ nhớ những ngày tuyết đổ mẹ dẫn con vào lớp học giao cho cô giáo vườn trẻ, con níu áo mẹ không rời, mẹ phải ở với con suốt buổi rồi đem con về.... Mẹ nhớ những đêm con ho cảm lạnh, mẹ thức trắng đêm ôm ru con ngủ.... Mẹ nhớ...Mẹ nhớ.... Mẹ khóc mừng ngày con tốt nghiệp đại học.... Mẹ tưởng con của mẹ sẽ mãi mãi êm ấm trong vòng tay mẹ. Nhưng con, con... đã đi và đi không trở lại. Lúc sinh thời, cha con nếu có lỗi với con thì cũng chỉ vì yêu con. Hai cha con bây giờ đã xum họp ở thế giới khác, đâu còn giận hờn. Mẹ cũng sắp sửa gặp cha con và con đây. Con ngoan nhé. Mẹ yêu của con.

Tôi lặng yên quỳ xuống đầu giường để bà vuốt tóc. Ước gì thật sự là John để bà trút hết nỗi niềm chất chứa bấy lâu và để cho tình mẫu tử thăng hoa.

Bà chợt tỉnh, nhận ra tôi nhưng vẫn tiếp tục xoa đầu. Ta thấy hình ảnh của John qua con, con cũng là con ta. Bà dí ngón trỏ lên trán tôi, mỉm cười, nụ cười nhân ái nhất nhận được trong đời, mắng yêu, "THẰNG TẦU CON CỦA MẸ". Chúa ơi! Bà gọi tôi là con và xưng mẹ!

Không biết ai xúc động nhiều hơn ai. Có lẽ không phải là bà mà là tôi. Tôi bỗng buột miệng vô thức...Mẹ, Mẹ... rồi á khẩu. Dòng nước mắt tôi chảy, giọt nước mắt bà lăn dài. Cả hai ôm nhau hoà tan trong nước mắt.

Trưa hôm sau bà lệnh cho cô thư ký mời luật sư gia đình gặp bà thảo luận chuyện quan trọng. Ông đang có việc ở Âu châu nên chỉ nói chuyện qua điện thoại và hứa sẽ đổi vé, bay về trên chuyến gần nhất.

Bác sĩ được triệu đến khẩn cấp.

Bà Steinberg yếu dần, bỏ ăn từ chiều hôm trước, môi khô. Nuốt khó khăn. Mũi thuốc morphine giảm đau liều cao chỉ giúp bà thiếp đi một chốc. Đắp thêm chăn, xoa bóp chân tay, vẫn còn lạnh. Bà đã bị ảo giác, mất định hướng thời gian và không gian. Liên tục thì thào gọi tên John. Tôi nắm bàn tay lạnh của bà vuốt nhẹ, khẽ gọi, mẹ ơi! mẹ ơi!.

Bà thở không bình thường nữa, hắt ra rồi bất động. Bác sĩ vạch mắt, rọi đèn pin soi đồng tử, nhìn đồng hồ lắc đầu. Xong một kiếp người!

Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ mọi người đã có mặt trong phòng. Hai người con gái đi cùng hai luật sư của họ, luật sư gia đình, giám đốc các công ty kinh doanh của gia đình, các đại diện và luật sư của các hội từ thiện, một vài họ hàng thân cận.

Tất cả yêu cầu luật sư gia đình công bố di chúc. Họ tranh cãi khá lâu, không ồn ào nhưng rất gay gắt. Không đi đến kết quả nên đồng ý giải quyết sau tang lễ.

Nghe thoang thoáng có người đề cập đến tên mình nhưng tôi để ngoài tai vì nghĩ không có gì liên hệ.

Luật sư yêu cầu giải tán để nhân viên nhà quàn làm phận sự. Nhiều người trước khi bước ra khỏi cửa ném cho tôi cái nhìn khó chịu, có người đi ngang tôi với vẻ thù hận ra mặt. Tôi không hiểu tại sao. Không lẽ kỳ thị chủng tộc?

Những gì xảy ra trong những ngày vừa qua khiến cho tôi chán ngán tình đời. Một quyết định xẹt trong đầu. Đi thật xa. Phải, sẽ đi thật xa để khỏi nhìn thấy những con diều hâu bạc tình bạc nghĩa đang rỉa xác một người đàn bà nhân hậu. Tôi bước vào phòng, đặt một nụ hôn trìu mến trên trán bà mẹ nuôi. Nói nhỏ, lạy mẹ, con đi.

Tôi về nhà nhét vội vài bộ quần áo vào va li, bỏ lại tất cả đồ đạc, ra bến xe đò Greyhound mua vé đi thẳng Toronto. Cuộc đời lưu lạc bắt đầu từ đó.

*

Ông luật sư đãi tôi ăn trưa tại một nhà hàng ở khu phố vắng. Chuyện xảy ra 32 năm trước được giải mật.

Khi ông đang ở Paris, bà Steinberg điện thoại, muốn sửa di chúc. Ông chấp hành chỉ thị, thâu băng cuộc đối thoại, soạn thảo văn bản ngay trên chuyến bay khứ hồi. Không may, bà đã không kịp duyệt ký trước khi ra đi.

Các cuộc tranh cãi sau khi bà chết bùng nổ giữa các luật sư.

Di chúc chính thức qui định rõ, gia tài được chia làm 3 phần đồng đều, cho 3 người con. Riêng phần của John Steinberg có ghi chú thêm. Vì đã được liệt kê trong danh sách quân nhân mất tích, nên nếu 5 năm sau khi bà mất, vẫn không nhận được tin tức mới, phần này sẽ được chia 50/50. 50% giành cho các cơ quan từ thiện đã chỉ định. 50% sẽ thuộc về 2 người con còn lại.

Theo bản dự thảo di chúc mới, phần của John được sửa lại, sau 5 năm phần này sẽ được trao cho tôi thay vì chia 50/50 cho các cơ quan từ thiện và 2 người con gái.

Ông luật sư yếu thế, không thuyết phục được mọi người chấp nhận lời di chúc phi văn bản. Nếu đưa ra toà án phân xử cũng không hy vọng thắng. Kiện cáo có thể kéo dài, sẽ rất tốn kém. Điều quan trọng nhất, người có quyền lợi là tôi thì biệt tích giang hồ, không tìm thấy địa chỉ liên lạc. Bản di chúc cũ được thi hành. "Định mệnh đã an bài", không thể thay đổi.

Ông trao cho tôi cuốn băng. Giữ lại như một kỷ niệm, ghi nhận tình thương và lòng hào hiệp của bà mẹ nuôi đối với tôi.


Nguyễn Cát Thịnh

Đứa con lai.. .hải tặc


Xong tú tài, tôi vào Saigon cư ngụ trong đại học xá Minh Mạng Chợ Lớn để tiếp tục việc học. Sau này có một anh sinh viên dự bị y khoa được xếp chung phòng.

Khi ra trường phải động viên vào quân đội, tôi nhường anh chân gia sư dạy kèm 2 học sinh trung học, một trai một gái. Họ là con của một ông Trung Tá bộ tổng tham mưu và bà chủ một công ty nhập cảng vải lụa.

Cuộc biển dâu xảy ra. Tôi và ông Tr/T đều bị nhập trại “tập trung học tập cải tạo”. Tôi “học tập” một thời gian không dài lắm, có lẽ vì cấp bậc nhỏ ít nợ máu. Ông Tr/T bị chuyển ra trại tù miền Bắc.

Được trả tự do nhưng không việc làm, lê lết ở các quán cà phê vỉa hè, một ngày nọ tình cờ gặp lại bạn. Bấy giờ anh đã là bác sĩ tại một bệnh viện thuộc quận nhất của thành phố.

Và câu chuyện bắt đầu từ đây.

Chuyện kể, khi cô học trò nhỏ không còn nhỏ nữa thì quan hệ giữa cậu cựu gia sư và tiểu thư tân sinh viên văn khoa đã bước vào giai đoạn anh anh-em em (âu cũng là điều dễ hiểu). Gia đình cả hai bên đều hoan hỉ, trông đợi ngày đại đăng khoa và tiểu đăng khoa.

Thế nhưng thời cuộc đã đảo lộn tất cả. Ông bố Trung Tá đi không biết ngày về. Bà mẹ mất cơ sở kinh doanh. Cậu con trai lớn tìm lãng quên trong những con hẻm nhầy nhụa. Tiểu thư tuy vẫn còn đậm nét tiểu thư nhưng chớm trầm cảm vì cuộc sống đã nhuộm đỏ giấc mơ hồng. Cậu bác sĩ chung tình đeo thêm gánh nặng phiền muộn.

Rồi phong trào vượt biển rầm rộ khắp nơi.

Trong lần đi thăm nuôi cuối cùng, bà Trung Tá đưa tiểu thư và cậu bác sĩ ra tận trại tù Hoàng Liên Sơn dò hỏi ý chồng. Ông Trung Tá bỗng trở nên lạc quan sau những năm tháng tuyệt vọng. Ông biết sức khỏe và bệnh trạng của ông, biết ngày tàn không còn xa. Ông không những đồng ý với vợ mà còn mong vợ phải thực hiện chuyến đi cho các con bằng mọi giá.

Bà đã được cha mẹ cậu bác sĩ thuận kết sui gia. Nhân tiện gặp ông, bà và ông tác thành luôn cho đôi trẻ. Đối với cả hai gia đình, họ đã nên duyên vợ chồng.

Ông xin các con hứa, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, lúc vui buồn hay lúc cùng cực cũng phải gắn bó, không được chối bỏ nhau. Đôi trẻ kín đáo cúi đầu quỳ lạy thay lời thề chung thủy.

Bạn tôi cùng vợ và người anh vợ đăng ký chuyến đi bán chính thức của người Hoa. Khi ra đến bến bãi một sự việc diễn ra ngoài dự tính của nhóm tổ chức. Chỉ những người Hoa chính gốc mới được nhận. Người Hoa giả mạo bị loại ra.

Chủ tàu là một đại gia có mẹ già mang bệnh kinh niên nên cần thầy thuốc. Hắn hối lộ để xin đặc ân cho hai vợ chồng bạn tôi nhưng họ chỉ chấp nhận một người. Dùng dằng mãi, cuối cùng một mình bạn tôi lên tàu.

Chuyến hải hành tương đối êm ả đưa người chồng đến đảo Bidong Mã Lai. Người anh vợ và người vợ trở về buồn hiu hắt.

Anh may mắn được gia đình một luật sư làm việc trong chính quyền tiểu bang Michigan bảo lãnh qua Mỹ.

Sau hơn 2 năm ôn luyện bài vở, anh được nhận vào nội trú để hoàn tất bằng hành nghề.

Người vợ đi thêm 2 chuyến nữa không thành công.

Chuyến sau cùng chủ tàu gọi đi khẩn cấp. Người anh trai còn mải vui chốn giang hồ không kịp nhận tin, đành đi chuyến sau. Tôi đến chơi đúng thời điểm. Bà Tr/T cho tôi trám chỗ, đồng hành với vợ người bạn.

Đâu có ai ngờ một chuyến đi định mệnh đang chờ đợi!!!

Con tàu chạy vòng vo 2 ngày 3 đêm vẫn chưa nhìn thấy đất đảo như hoạch định. Tàu trôi, trôi như vô tận. Tài công thú nhận không có kinh nghiệm lái đường biển.

Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.

Sau khi đã chiến thắng được sự sợ hãi tột cùng ban đầu, một số thanh niên còn khỏe mạnh họp lại tính chuyện phản công. Đám hải tặc vẫn còn e dè, chặn cửa hầm chưa dám xuống.

Để chiến đấu, mỗi người tự trang bị vũ khí cho mình. Với kìm búa gậy sắt gậy gỗ, họ phá bật nắp cửa hầm, reo hò vùng lên quyết sinh tử khiến đám hải tặc rúng động. Biết không địch nổi số đông áp đảo, không đợi lệnh, các tên hải tặc chen nhau nhảy xuống biển bơi về tàu của chúng, xả máy rút lui.

Tôi cố tìm nguời vợ của bạn.

Một tên hải tặc mang vết sẹo dài trên vai trái bước ra từ phòng lái đầu hàng. Cô gái trong phòng nằm trên tấm nệm cao su vẫn còn loã thể chính là người tôi tìm.

Một tên nữa cũng chậm chân nên bị bắt giữ vì còn mải nhập thiên thai. Tên có sẹo có lẽ là đầu đảng, xá lạy xin đái công chuộc tội bằng cách hướng dẫn tài công lái đúng đường, cặp vào đảo Tarempa Nam Dương.

Ngoại trừ những người bị nhốt dưới hầm, tất cả đàn ông đều bị trói gô chân tay. Một phụ lái bị giết chết vì kháng cự. Chủ tàu bị ném xuống biển vì cố che chở cho con gái nhỏ sắp bị hãm hiếp. Hai phụ nữ hoảng hốt nhảy xuống biển tự vận để bảo toàn trinh tiết. Mười một phụ nữ trẻ bị liên tục thay phiên hãm hiếp, riêng người vợ của bạn tôi được tên đầu đảng giành độc quyền. Một nam thanh niên trượt chân rơi xuống biển và năm thanh niên khác bị thương khi chiến đấu. Hai hải tặc bị bắt giữ nhưng trốn thoát khi tàu vừa cặp bến vào đảo Tarempa.

Chính quyền địa phương đưa tàu qua đảo Kuku tạm trú. Một tháng sau được chuyển sang đảo Galang.

Chút vốn liếng tiếng Anh sót lại từ thời trung học giúp tôi tìm được một việc làm trong văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Có cơ hội thuận tiện, tôi tường trình trung thực những gì đã xảy ra.

Tôi thuyết phục các phụ nữ bị làm nhục ra trước ủy ban điều tra quốc tế đối chứng với lời khai của tôi nhưng chỉ có người vợ của bạn và một người vợ của anh thợ máy đồng ý. Tiếng kêu tuy yếu ớt được ghi nhận.

Người vợ của bạn tôi suy sụp khủng hoảng tinh thần cực độ khi biết đã mang thai. Cô nài nỉ tôi tìm mọi cách giúp phá nếu không sẽ tự vận. Tôi thật sự khổ sở giữa nên hay không nên. Nếu nên thì cũng không biết làm sao. Phương tiện y tế hạn chế, dễ gây hậu quả xấu cho người mẹ.

Sau một đêm dài trằn trọc tôi quyết định viết một lá thư kể toàn bộ sự việc diễn tiến trên tàu, nhờ gửi khẩn cho người chồng. Năm tuần lễ sau nhận được hồi âm. Anh cho biết vị luật sư bảo lãnh anh đã tích cực vận động với các dân biểu và nghị sĩ tiểu bang cũng như liên bang lên tiếng với bộ ngoại giao Hoa Kỳ, thỉnh cầu can thiệp trực tiếp trường hợp của vợ anh để xin được đi định cư trong thời gian sớm nhất trước khi tiên liệu xấu xảy ra. Anh tha thiết xin vợ đừng phá thai, sẵn sàng nhận vai trò làm cha.

Tôi đã được phái đoàn Canada chấp nhận và thông báo ngày đi định cư nhưng phải xin đình hoãn.

Sáu tháng vận động đã có kết quả. Anh bạn tôi đi cùng với nhân viên lãnh sự quán HK tại Singapore đến Galang. Qua thủ tục đặc biệt, mang được người vợ đến Mỹ.

Đứa bé được sinh ra trên đất Mỹ với khai sinh mang họ của bạn tôi.

Trong buổi hội ngộ tiệc thôi nôi, vợ chồng anh bạn và người anh vợ cùng tôi đồng thuận tuyệt đối giữ bí mật mọi chuyện để sự phát triển tâm sinh lý của đứa trẻ không bị ảnh hưởng và sẽ lớn lên như một người Việt Nam trong một gia đình Việt tỵ nạn.

Thỉnh thoảng có dịp thăm viếng tôi tưởng như nhìn thấy hạnh phúc thật sự trong gia đình họ. Cậu bé lớn lên trong tình yêu tràn đầy của cha lẫn mẹ.

Sinh kế đã làm giảm tần xuất liên lạc giữa chúng tôi một thời gian. Mỗi năm chỉ còn nhớ đến nhau qua những tấm thiệp xuân. Cho đến một lần, thay vì nhận được thiệp thì là một lá thư dài kể lại tai nạn thảm thương cướp mất người vợ.

Thường ngày người chồng nhắc nhở vợ dùng thuốc đều đặn vì hậu chấn thương trên biển cả khiến người vợ cần được săn sóc tâm thần và tâm lý trị liệu lâu dài.  Lần đó người chồng đi dự hội thảo chuyên môn ở tiểu bang xa nhà. Người vợ đã bỏ thuốc nhiều ngày, giữa đêm mưa gió đi lang thang ngoài bờ sông không tự kiểm soát được, ngã xuống nước trôi mất tích.

Vợ chết. Bệnh trầm cảm truyền qua anh. Mặc cảm có tội luôn luôn ám ảnh. Anh dồn hết tình thương cho đứa bé, nay đã trở thành một thiếu niên.

Đến lúc đứa con phải xa nhà vì học vấn anh không thể đương đầu với nỗi buồn gặm nhấm, trầm cảm nặng hơn.

Nhiều năm nữa trôi qua. Tin buồn khác lại đến. Bạn tôi qua đời sau một thời gian ngắn nhuốm bệnh. Anh biết bệnh mình trầm kha, nhưng buông xuôi không quan tâm chữa trị, có lẽ muốn gặp vợ để giữ trọn lời thề năm xưa.


*

Đứa con từ chuyến vượt biển của người vợ bạn tôi  năm xưa nay đã là người lớn. Cha mẹ đều mất. Bác ruột di cư sang Úc theo vợ. Tôi trở thành người thân duy nhất để chàng thanh niên, tức đứa bé ngày xưa, xả tâm tình. Chúng tôi xem nhau như chú cháu.

Những lá thư qua lại làm tôi lây những ưu tư của một người trẻ nghĩ về thân phận mình. Sau đây là một số trích đoạn từ những lá thư của cháu từ nước Mỹ với ông chú, thư viết bằng Anh ngữ, và do tôi trích dịch:

. . .


Chú ơi! Từ lúc bắt đầu hiểu biết cháu đã linh cảm có điều gì rất nghịch lý trong gia đình cháu. Hạnh phúc như con bướm lượn lờ trên những bông hoa mời chào, ngập ngừng muốn đậu rồi lại bay đi.

Cha cháu chiều chuộng cháu hơn những đứa trẻ cùng trang lứa. Mẹ cháu hay vuốt tóc, hôn cháu trong không gian tĩnh lặng, nói nhỏ, con của mẹ, mẹ yêu con, lặp đi lặp lại.

Nhưng cũng có đôi lúc cháu bắt gặp cặp mắt thất thần của mẹ nhìn ra cõi xa xăm.

Mẹ rất sợ sông, biển. Những kỳ đi nghỉ hè cha luôn luôn tránh vùng biển.

Cha săn sóc mẹ từ miếng ăn giấc ngủ. Mẹ biếng ăn, cha bỏ bữa. Mẹ mất ngủ, cha “hầu quạt”. Mẹ buồn, cha làm hề, dí ngón tay lên trán gọi mẹ là cô bé bướng bỉnh, mẹ mỉm cười gọi cha là cậu giáo khó tính, thế là buồn tiêu tan. Cha biết làm cho mẹ vui vẻ hoạt bát qua những viên thuốc mà cha gọi là thuốc tiên, bắt mẹ uống mỗi ngày (sau này cháu mới biết là những thuốc trị tâm thần).

Mấy đứa bạn của cháu thắc mắc tại sao cha mẹ cháu đều có nước da sáng, cao lớn, mũi thẳng mà cháu thì sậm da, người tròn thấp, cánh mũi to.

Cháu muốn quên mà không quên được cái hình hài không giống ai của cháu. Có phải cháu là con ngoại hôn của mẹ không chú? Hay cháu là con nuôi? Hay là cháu đến từ một hành tinh khác?

. . .

- Chú không hiểu tại sao cháu lại có những suy nghĩ lẩm cẩm như thế. Chuyện giống hay không giống là quyền của... ông trời. Cố học thành tài nối nghiệp cha.

. . .

Chú ạ. Cháu báo cho chú tin động... ông trời. Cháu đã xin thử DNA. Ông trời đã sụp đổ trước mắt cháu! Kết quả đúng như cháu hoang mang lo sợ. Cháu không có liên quan phụ hệ với cha cháu!

. . .

- Chú hiểu tâm trạng của cháu. Nếu chia sẻ được xin cho chú chia sẻ. Chú nhớ có đọc ở đâu đó:

Cha không được định nghĩa như người đã tạo ra đứa trẻ, mà khác hơn thế, là người dang rộng vòng tay và dành thì giờ nuôi nấng đứa trẻ bằng cả tâm trí và tình yêu. Huyết thống không luôn luôn làm nên người cha. Chữ cha phải thoát ra từ tấm lòng. Ai cũng có thể tạo ra một đứa trẻ nhưng cha đúng nghĩa nhất chính là người đã nuôi nấng đứa trẻ.

Không liên hệ máu mủ không làm cho người cha kém tình phụ tử. Xác nhận một người cha đích thực, không phải ở DNA, mà ở trong trái tim người ấy.

. . .

Cháu cám ơn chú đã mở mắt cho cháu. Nghĩ lại, cháu không còn vướng mắc chuyện... ông trời nữa. Nhưng chú ơi! Giòng máu đang chảy trong người cháu là của ai? Cháu muốn biết và cháu biết chắc chắn chú biết.

. . .

Lá thư của chàng trai khiến tôi phải trăn trở thao thức. Không thể chối cãi là tôi và cha mẹ cháu đã giấu diếm nguồn gốc của cháu.

Tôi sẽ tiếp tục giữ hay phá lời thề khi phải trả lời cháu?

Tôi đặt lên bàn cân, một bên là sự đòi hỏi chính đáng của cháu, một bên là lời cam kết với vợ chồng bạn. Cháu đã trưởng thành, có suy nghĩ chín chắn. Sẽ mang tội với cháu nếu vẫn giữ điều bí mật. Vì thế tôi khấn vái vong linh hai người bạn, xin đựợc giải lời thề giúp tôi thanh thản tiết lộ sự thật, từ tình sử thơ mộng của hai người cho đến thảm kịch trong chuyến đi định mệnh.

. . .

Cháu xin lỗi đã ngưng liên lạc với chú khá lâu. Cả năm nay cháu đi đi về về giữa Mỹ và Thái Lan.

Cháu thuê thám tử tư quyết tìm ra tên hải tặc đã mang tai họa cho gia đình cháu.

Bà ngoại cháu trước khi qua đời vẫn tin tưởng cha mẹ cháu sống hạnh phúc và rất hãnh diện về đứa cháu ngoại. Ông ngoại cháu đã chết trong trại tù không lâu sau lần thăm nuôi, chắc không yên tâm nhắm mắt.

Ông bà nội từng kỳ vọng ở đứa cháu đích tôn một ngày về vinh quy bái tổ, làm rạng danh dòng họ. Ở bên kia thế giới hai cụ có phẫn nộ vì chi nhánh con cháu chính thống đã thay máu từ đây?

Mọi người đều bị lừa dối.

Cháu có nhờ cô thông dịch viên, đang theo học khoa ngôn ngữ đại học Chulalongkorn, trợ giúp. Cô này có hoàn cảnh hơi giống cháu. Cha là hải tặc hoàn lương. Mẹ là thuyền nhân suýt bị nạn trên biển như mẹ cháu.

Nhờ thám tử và cô bạn, cháu đã tìm thấy và trực diện với người gieo giọt máu oan nghiệt cho mẹ cháu. Bây giờ ông ta đã trở thành một nhà sư, trụ trì ngôi chùa nhỏ trong một làng đánh cá.

Cháu tham khảo các luật sư của Mỹ và Thái với ý định đưa ông ra toà án để đòi lại công lý cho các nạn nhân, trong đó có mẹ cháu.

. . .


Chú ơi giúp cháu.

Tiến thối lưỡng nan!

Nếu bị kết án, ông sư già có thể phải vào tù, trả giá cho tội lỗi trong quá khứ. Nhưng điều đó có đổi lại bình an cho cháu không? Nên hay không nên tiến hành thủ tục pháp lý?

Cháu lâm vào tình trạng y hệt như chú khi xưa (phân vân giữa việc nên hay không nên giúp mẹ cháu phá thai).

Chú ơi, có bao giờ chú hối hận vì đã không giúp mẹ trục thai nhi cháu không? Nếu không có cháu trên đời thì sao chú nhỉ? Cha mẹ cháu sẽ sống trong thiên đàng hạnh phúc với những đứa con kết tinh từ tình yêu.

Chú có nghĩ rằng cháu đang nuôi đau khổ vì nan giải?

Chú ơi, cháu là ai?

Việt Nam hay ngoại tộc Việt Nam?

Thái Lan ư? Ô nhục!

Mỹ ư? Chỉ trên giấy tờ!

Những đứa con lai Mỹ dù có bị kỳ thị nhưng vẫn không bị khước từ giòng máu Việt. Còn cháu, cháu có đựợc cái hãnh diện giới thiệu với mọi người “tôi là người Mỹ gốc Việt”?

Cháu muốn ra biển hét thi với sóng, gào lên, hỏi ông trời! Tôi là ai? Tôi là ai? Tôi là ai?

. . .

- Chú rất thán phục sự quyết tâm và ý chí của cháu. Có lương tâm dẫn dắt, cháu hãy đi theo, làm những gì cháu thấy nên làm. Nếu cháu muốn được tư vấn thì đừng chê quan niệm lỗi thời của chú nhé.

Thời của cha mẹ cháu cũng như chú, không thiếu những chứng tích của tội ác man rợ.  Cũng không thiếu những chứng tích đau thương bi thảm. Trong số này, có số phận của nhữntg đứa con lai hải tặc.

Người ta thường tìm cách che dấu thứ mà người ta muốn quên. Nhưng cháu, một trong những đứa con đó, đã dũng cảm nói lên tiếng nói của con người, bình đẳng như mọi người của thế gian này.

Giáo lý Phật Đà dạy ta dùng từ bi và tha thứ để đối phó với nghịch cảnh. Lòng từ bi không chấp nhận hành động sai nhưng có thể tha thứ cho người làm sai.

Chính cháu là người đau khổ nhất, không được gì, đúng không? Mong cho ông sư hải tặc rục xương trong tù? Tất cả chỉ làm tinh thần cháu kiệt quệ.

Cháu ạ, Kinh Pháp Cú 5 có câu:

Hận thù diệt hận thù,

Đời này không có được,

Từ bi diệt hận thù

Là định luật ngàn thu.

Có phải cháu muốn tìm sự bình an? Nếu cháu chưa sẵn sàng mở lòng bao dung thì cũng đừng để tâm bị xáo trộn. Tâm là cốt lõi của cuộc sống. Với tâm thanh tịnh thì hạnh phúc sẽ tìm đến. Với tâm bất ổn thì đau khổ sẽ bám không rời.

Vị sư già cũng đi tìm bình an như cháu. Câu kinh tiếng kệ là những tiếng than khóc của  tạo thành một vòng kín vô hình nhốt ông. Ông ta đang thi hành hình phạt nặng nề nhất của lương tâm. Cứ để ông ta thụ án. Cháu đâu cần phải cố sức bắt tội nguời có tội. Vào tù hay thoát khỏi tù là quyền của...ông trời!

. . .



Thưa chú,

Chú đã giải tỏa đám mây u ám vần vũ trên đầu cháu. Cho cháu thấy ở phía trước một con đường sáng sủa hơn. Hành trang đeo trên vai cũng nhẹ hơn.

Cháu hối tiếc những ngày còn cha mẹ, cháu đã không mang đến cho các người tiếng cười hạnh phúc. Không có dịp thầm thì bên tai các người, cha mẹ ơi con yêu cha mẹ.

. . .



Cha cháu đã đón nhận cháu như một quà tặng quí giá của tạo hoá. Mẹ cháu cũng mang nặng đẻ đau như các bà mẹ khác. Chú tin rằng ơn này còn nặng hơn ơn nghĩa sinh thành.

Phải vinh danh những người cha vĩ đại có trái tim thánh. Phải cúi đầu ngưỡng mộ và cảm thông cho những người mẹ bất hạnh. Người mẹ can đảm, mạnh mẽ đứng dậy sau khi bị vùi dập, cùng với người cha cưu mang, nuôi nấng sinh linh “lạ”, thay giòng máu ô nhiễm trong hài nhi bằng giòng máu vô nhiễm của tâm hồn.

. . .

Chú đọc cho cháu thống kê của LHQ, tìm thấy trong thư viện, để cháu có cái nhìn tổng thể.

Khoảng 839,000 người Việt Nam đã vượt biển trên những chiếc thuyền mong manh từ 1975 đến 1997. Phỏng chừng 300,000 đến 400,000 người không đến được bến bờ tự do.

Chỉ riêng năm 1981 Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ báo cáo: 15,479 thuyền nhân đến Thái Lan đi trên 452 con tàu. Trong đó 349 tàu đã bị hải tặc tấn công, trung bình mỗi tàu 3 lần. 578 phụ nữ bị hãm hiếp. 228 phụ nữ bị bắt cóc. 881 chết hoặc biệt tích.

Con số thai nhi do hải tặc không được báo cáo chính xác vì bản chất phụ nữ Việt hiền lành, chịu đựng. Đa phần do xấu hổ nhục nhã nên không khai báo.

. . .

Cháu đoán, những bào thai ấy nếu sống sót bây giờ đã trở thành những thanh niên, trung niên bằng hoặc hơn tuổi cháu. Họ có thể đã lập gia đình và có con cái.

Chú ơi, có ai mang cùng tâm trạng như cháu? Hỏi mãi một câu hỏi “Tôi là ai”?

. . .



Thảm trạng lịch sử đã sang trang chưa? Có nên hâm lại chuyện cũ không? Chú không biết.

Tội ác, theo thời gian, có thể dần dần bị quên lãng nhưng chứng tích tội ác là những đứa con lai... hải tặc hiện hữu khắp nơi.

Chú nêu vấn đề với cộng đồng, mong câu hỏi “Tôi là ai?” của cháu sẽ được trả lời.

Bằng lòng với số phận? Sống để bụng chết mang theo?

Nghĩ sao?

30/4/ 2018

Nguyễn Cát Thịnh

Sunday, February 22, 2015

Xét Nghiệm Máu Đơn Giản



 Vào một ngày đẹp trời của tháng Chín, tại phòng hội của Cung Mỹ Thuật San Francisco -Palace of the Fine Arts, San Francisco, cô Elizabeth Holmes đăng đàn đứng diễn thuyết nói chuyện về MÁU.  Cô là đại diện của công ty Theranos trong nhóm TEDMED. Công ty Theranos đóng góp một phần trong chương trình triển lãm về Y Tế, Kỹ Thuật và Hoạ Kiểu.
Năm nay, cô Holmes được 30 tuổi, hiện là CEO, Chủ tịch của công ty Theranos, một công ty ở Silicon Valley đang làm đảo lộn kỷ nghệ thử nghiệm máu, ngành công nghiệp sinh lợi rất nhiều. Phân tích máu là một phần trong toàn bộ ngành y khoa. Khi một y sĩ muốn kiểm tra vài khía cạnh về tình trạng sức khoẻ của bạn, họ cần phải làm xét nghiệm máu. Nhờ thử máu, y sĩ có thể biết mức cholesterol, mức đường có trong máu, hay tìm ra những chỉ dấu cho thấy thận và gan có vấn đề.  Thông thường khi thử nghiệm máu, người ta phải đâm cây kim dài vào mạch máu, rút máu đầy hai ba ống nghiệm, sau đó gửi đi phòng thí nghiệm phân tích. Tựu chung qúa trình xét nghiệm máu như phân tích, định  bệnh đều do hai công ty thử máu chủ yếu là công ty Quest và Laboratory Corporation of America. Họ kiếm được lợi nhuận khoảng 75 tỉ đô la mỗi năm.
Cô Holmes nói với khán giả dự hội nghị rằng xét nghiệm máu có thể được làm nhanh chóng hơn, dễ dàng hơn, và ít tốn kém hơn. Do đó, nó sẽ giúp cứu thêm nhiều sinh mạng. Đứng trên sân khấu, trước một số đông khán giả, cô Holmes vẫn mặc bộ đồ đồng phục hàng ngày: một chiếc áo cao cổ mầu đen, tương tự như ông Steve Jobs trước đây thường mặc. Tóc của cô chỉ vấn sơ sài thành một nùi tóc để phía sau. Trong lúc thuyết trình, cô có thói quen đi tới đi lui, chậm rãi, trên sân khấu, mắt cô nhìn thẳng, ít khi chớp mắt, hai tay chống nạnh bên hông. Cô Holmes thành lập công ty Theranos vào năm 2003, khi cô mới được 19 tuổi. Năm sau, cô quyết định bỏ học, không học tiếp ở trường đại học Stanford nữa. Cô nói với khán giả rằng từ ngày đó đến nay công ty của cô đã phát minh phương pháp làm thử nghiệm máu mới chỉ cần hai giọt máu chích từ đầu ngón tay là có thể khám phá ra hàng chục căn bệnh, từ mức mỡ cao trong máu đến bệnh ung thư. Hiện nay, công ty Theranos đang  giúp đem phương pháp thử nghiệm máu đơn giản này vào trong bệnh viện. Công ty thảo luận chi tiết với Y Viện Cleveland Clinic. Công ty Theranos đã mở ra 41 trung tâm thử nghiệm máu tại các tiệm bán thuốc của hệ thống Walgreens, và dự trù sẽ mở ra hàng ngàn trung tâm mới nữa. Nếu bạn xuất trình thẻ căn cước, thẻ bảo hiểm y tế, hay giấy giới thiêu của bác sĩ là bạn có thể được thử nghiệm máu ngay tức khắc. (Máu được trích ra từ ngón tay, và gửi đến phòng Lab của công ty Theranos.). Từ mẫu máu xét nghiệm, công ty của cô sẽ phân tích, thực hiện những cuộc xét nghiệm theo tiêu chuẩn Medicare đặt ra với độ chính xác 90%, và ít tốn kém. Thông thường thử nghiệm máu để biết mức cholesterol trong máu phải tốn $50 hay hơn. Công ty Theranos chỉ lấy $2.99 (Hai đô la, 99 xu).
Khi nói chuyện, cô Holmes nói nhỏ nhẹ, gần như là thì thầm. Khi đăng đàn diễn thuyết, cô nói với một cao độ lớn hơn một chút, và giữ nhịp điệu đều đều của người đứng thuyết giảng. Khán giả dự hội nghị TEDMED lắng nghe một cách chăm chú khi cô phân tích sự thiếu xót trong kỹ nghệ xét nghiệm máu. Dịch vụ xét nghiệm máu quá tốn tiền, được thực hiện ở thời điểm, và điạ điểm bất tiện, phải lấy máu bằng ống chích. Cô Holmes kể lại câu chuyện về mẹ cô và bà ngoại cô bị ngất xỉu khi trông thấy  máu được rút ra, cho vào ống nghiệm.
Cô Holmes nghĩ rằng phải làm cách nào để biến việc thử máu trở thành một kinh nghiệm “tuyệt vời”, thoải mái, và công ty Theranos của cô nhắm biến việc thử máu trở thành chuyện bình thường. Cô cho hay có đến 40% hay 60% số người được bác sĩ yêu cầu xét nghiệm máu đã tìm cách thoái thác không đi thử nghiệm vì sợ lấy máu. Nhiều căn bệnh như bệnh tiểu đường, bệnh phong tình vì giao hợp, và nhiều bệnh thông thường khác có thể chẩn đoán ra ngay nếu việc xét nghiệm máu được làm dễ dàng. Biết bao lần chúng ta nghe bệnh nhân than: “Phải chi tôi biết được mình mắc bệnh từ trước, thì đâu đến nỗi như thế này…”.
Công ty Theranos vừa là một công ty chế tạo máy móc, và làm công việc ngành y khoa. Đây là một công ty tư nhân, mới được sáng lập tại Silicon Valley trong ít năm gần đây. Giáo sư Channing Robertson dạy môn kỷ sư hoá học ở trường Stanford là thành viên trong ban quản trị của công ty nói với chúng tôi: “Trong một thời gian dài, tôi không biết phải mô tả cho vợ tôi ra sao, để bà ấy hiểu công ty của tôi làm cái gì.”. Trong ít tháng gần đây, cô Holmes đi thuyết trình tại nhiều nơi về công ty Theranos, giống như tại hội nghị TEDMED . Các nhà đầu tư ước tính giá trị của công ty Theranos vào khoảng hơn 9 tỉ đô la. Cô Holmes làm chủ hơn 50% cổ phần của công ty. Cả hai tạp chí tài chánh Fortune và Forbes  đều liệt kê cô là nữ tỉ phú trẻ tuổi nhất thế giới, khởi đầu sự nghiệp từ hai bàn tay trắng. Trong hội đồng quản trị của công ty Theranos, người ta thấy có mặt những nhân vật nổi tiếng trong chính phủ trước đây: ông George P. Shultz, Henry Kissinger, Sam Nunn, và ông William H. Foege, cựu giám đốc trung tâm kiểm soát, phòng ngừa bệnh dịch. Bác sĩ Delos M. Cosgrove, Chủ tịch, kiêm Tổng Giám Đốc Y viện Cleveland Clinic. Ông này hết lòng ủng hộ công ty Theranos. Ông nói: “Tôi cho rằng công ty là một thành công bộc phá trong y tế. Nó thể hiện một thay đổi quan trọng trong việc chăm lo sức khoẻ cho người dân.”.
Sự thăng tiến của công ty xảy ra đúng vào lúc đa số người tiêu thụ hăm hở muốn biết tài liệu thông tin riêng tư của mình. Những công ty như 23andme giúp người ta tìm hiểu về DNA của mình, các loại smartphone giúp người dùng đo được nhịp đập của tim. Trong buổi thuyết trình, cô Holmes giải thích: “Tất cả công việc tôi muốn thực hiện khi lập ra công ty Theranos nhằm đưa ra định nghĩa lại về cơ cấu của thủ tục định bệnh. Tôi muốn mọi người đều có thể tìm hiểu về căn bệnh mình có trong người, không bắt buộc họ phải có tiền hay không. Bất cứ lúc nào họ cũng có thể tìm hiểu về bệnh trạng của mình.”. Bác sĩ Grove tiên đoán rằng rồi đây việc thử nghiệm máu để tìm biết về những căn bệnh thông thường sẽ do cả bệnh nhân lẫn bác sĩ yêu cầu thực hiện. Những triệu chứng như mức cholesterol, mức đường có trong máu là những vấn đề rất thông thường, người có bệnh cứ việc ghé qua cửa hàng dược phẩm của CVC, Walgreens, hay Walmart là làm được. Dễ dàng như vậy, nên sẽ tạo ảnh hưởng rất lớn trong ngành y khoa.
Nhưng việc thu thập, và tiết lộ tài liệu y khoa của mỗi cá nhân là điều cơ quan US Food and Drug Administration muốn đặt ra giới hạn. Năm ngoái cơ quan FDA đã cấm công ty 23andme phổ biến tin tức cá nhân, sợ rằng tin tức đó bị lạm dụng, dùng sai với mục đích của nó. Ông Lakshman Ramamurthy, một nhà sinh vật học, trước đây từng làm phó giám đốc cơ quan  FDA cho rằng tư liệu y khoa không phải là một mặt hàng tiêu dùng, phải dùng thông tin đó cho mục đích y khoa, dùng để chữa trị căn bệnh, không thể phổ biến bừa bãi được.”.
Cô Holmes phản biện lại lập luận trên, cô cho rằng công ty Theranos chỉ muốn bảo vệ công ty của mình, trong lúc thực một công tác duy nhất chỉ công ty Theranos làm được. Cô nói: “Chưa có một công ty nào làm được việc làm như chúng tôi. Chúng tôi tạo ra một thị trường mở rộng cho những ai không muốn bị kim chích vào người để lấy máu xét nghiệm.”.
MỘT NGÀY SAU BUỔI THUYẾT TRÌNH TẠI HỘI NGHỊTEDMED, tôi gặp cô Holmes trong phòng hội của công ty Theranos, một bin dinh nhỏ, một tầng, cách khuôn viên trường đại học Stanford hai dẫy phố. (Từ tháng 11, công ty sẽ dọn đến một khu lớn hơn, cách đó vài dậm). Cô Holmes sống trong một căn condo hai phòng ngủ trong tỉnh Palo Alto, với một cuộc sống hết sức thanh đạm. Mặc dù cô là người đọc sách rất nhiều từ khi còn nhỏ, nhưng bây giờ vì bận rộn quá, cô không còn dành thì giờ để đọc tiểu thuyết, và gặp gỡ bạn bè. Cô cũng chẳng có thì giờ để hò hẹn với ai,.Cô không có truyền hình trong nhà, và từ 10 năm nay cô chưa hề đi nghỉ mát ngày nào. Trong tủ lạnh ở nhà, hầu như trống trơn, cô thường ăn ngay tại văn phòng làm việc. Cô ăn uống rất kỹ, theo lối vegan, tức là chỉ ăn rau qủa, và cá, không ăn thịt. Mỗi ngày cô uống nước cốt xay rau quả gồm dưa leo, pasrsley, rau kale, xà lách, spinach, và celery.
Khi còn thiếu thời, cô Holmes sống với gia đình, và thường xuyên phải dời chỗ ở. Cha của cô, ông Chris làm việc cho chính phủ, phần lớn là cho cơ quan Phát Triển Quốc Tế -US AID, trực thuộc Bộ Ngoại Giao. Ông phải đi công tác nhiều nơi trên thế giới, với nhiệm vụ giúp cứu trợ, xoá bỏ bệnh tật ở nhiều nước khác, và ông phụ trách việc phối hợp nguồn cung cấp nước trên toàn cầu, một bộ phận của cơ quan AID. Mẹ của cô, bà Noel, từng làm việc hàng chục năm cho chương trình ngoại viện và quốc phòng của Quốc Hội Hoa Kỳ, cho đến khi cô Elizabeth và em trai của cô là Christian ra đời. Gia đình dời chuyển chỗ ở vài lần, điều này khieén cho cô Holmes không có một nơi nào để gắn bó lâu dài. Cô thường tự mô tả mình là một lữ hành cô đơn, nhưng rất hạnh phúc. Cái thú du nhất của cô là sưu tầm côn trùng và đi câu với bố.
Nói về con người mình, cô mô tả như sau: “Có lẽ tôi là một người không bình thường. Tôi đọc hết cuốn sách “Moby Dick” từ năm chín tuổi. Tôi đọc hàng trăm cuốn sách, và tôi vẫn tiếp tục ghi chép tất cả những gì mình từng đọc. Điều thích thú nhất trong việc giáo dục con người tôi là cha mẹ tôi, không ai nói với tôi cụm từ “con không thể làm được điều đó”. Cha mẹ tôi tin rằng tôi có thể làm bất cứ điều gì mình muốn làm.
Ông nội của cô Holmes là cụ Chris Holmes, một người di dân từ nước Đan Mạch sang Hoa Kỳ. Ông cụ học ngành kỹ sư, sống ở Cincinnati, và sau đó trở thành y sĩ. Khi cô Elizabeth được tám tuổi, ông nội dẫn cháu vào bệnh viện địa phương nơi cụ làm, và cho cháu đi xem khắp nơi. Sau đó, tên của cụ được dùng để đặt tên cho bệnh viện này để tưởng nhớ đến công đức của cụ. Ông bác sĩ kết hôn với con gái của một bệnh nhân, ông Charles Fleischmann. Ông cụ Fleischman  là người đầu tiên sản xuất loại kem sữa đóng hộp, và trở thành giầu có. (Một người cháu của cụ là Raoul Fleischmann từng làm chủ tờ báo lớn hồi năm 1925, chung với ông Harold Ross). Cô Holmes tâm sự rằng tôi lớn lên trong bối cảnh nhiều người trong gia đình làm được những việc vĩ đại, những quyết định đáng kể đem lại nhiều thay đổi cho người khác.”.
Năm 1993, khi Elizabeth được chín tuổi, cha của cô làm phụ tá Tổng Giám Đốc công ty dầu hoả Tenneco ở Houston. Đây là một công ty sản xuất năng lượng rất lớn. Cô biết cha cô cảm thấy áy náy, cắn rứt lương tâm, khi đem gia đình dời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn về Texas. Cô viết cho cha một lá thư để an ủi ông: “Bố đừng lo, điều con muốn làm là phải khám phá ra một cái gì mới, có ích cho đời. Con thấy ở Texas hợp với con lắm. Nơi đây mọi thứ đều to lớn, vĩ đại.”.
Trong vài năm của thập niên 1980, ông Chris Holmes thường phải đi sang Trung Hoa công tác, mỗi chuyến hai tuần, để giúp công ty Mỹ đầu tư vào những dự án lớn ở Trung Hoa. Sau khi gia đình dọn đến Houston một thời gian ngắn, Elizabeth bắt đầu đi học tiếng Quan Thoại. Từ năm lớp 10 ở trung học, cứ hè đến là cô đi học tiếng Tầu. Cô đến trường Stanford, xin lớp Quan Thoại học vào muà hè. Cô gọi điện thoại rất nhiều lần cho văn phòng nhà trường để xin vào học. Nhưng nhân viên nói rằng họ không nhận học sinh trung học.Một hôm chính cha cô gọi điện thoại để hỏi cho ra lẽ. Người đứng đầu chương trình bực mình vì bị quấy rầy nhiều qua, ông trực tiếp trả lời cha con ông Holmes. Ông nói:”Mấy người gọi điện thoại nhiều quá, tôi chịu không nổi nữa. Đâu để tôi trắc nghiệm ngay, thử xem có học nổi hay không.”. Ông ta xoay qua nói chuyẹn với Elizabeth bằng tiếng Quan Thoại, và cô bé trả lời trôi chảy. Thế là ông ta nhận cô bé học sinh trung học vào trường Stanford  học tiến Tầu trong mùa hè. Elizabeth hoàn tất chương trình của sinh viên đại học về môn Quan Thoại khi còn là học sinh trung học.
Năm 2001, khi đang học lớp 12 cô làm đơn xin vào học trường Stanford, và đưoộc chấp nhận ngay. Cô được chọn vào chương trình President’s Scholar, tức là có thêm ít tiền khi làm dự án nghiên cứu. Cha mẹ cô gửi con gái vào học ở trường Stanford, gói theo trong hành trang cuốn “Thiền Học” của Marcus Aurelius, nhắn nhủ cô con gái hãy sống một cuộc đời có mục đích, và có ý nghĩa. Khi vào trường, cô chọn học ngành Kỹ sư Hoá Học. Cô được mời tham gia dự án nghiên cứu của Giáo sư Channing Robertson. Lúc đó ông là khoa trưởng phân khoa kỹ sư hoá học. Năm nay, GS Robertson  được 71 tuổi, dáng cao, gầy, khoẻ mạnh, lúc nào cũng thoải mái, cười tươi. Tôi có dịp ghé thăm ông tại nhà của ông trong khuôn viên trường đại học. Lớp học đầu tiên cô Holms theo học với giáo sư là buổi hội thảo về những loại dụng cụ làm ra để kiểm soát lượng thuốc đưa vào cơ thể con người. Một hôm, GS Robertson kể lại là cô Elizabeth xin ông cho được làm việc trong phòng lab chung với các sinh viên Tiến sĩ. Lúc đầu Giáo sư từ chối, nhưng cô sinh viên năn nỉ quá, ông bèn cho cô vào học. Vào cuối khoá muà Xuân, cô nói với giáo sư cô có ý định đi làm việc mùa Hè ở Gerome Institute bên Singapore. Ông cảnh báo với cô trước rằng muốn học ở viện nghiên cứu này cô phải biết nói tiếng Quan Thoại.
Cô trả lời: “Tôi nói thông thạo tiếng Quan Thoại.”.
Vị giáo sư này nghĩ trong đầu: “Không biết con nhỏ sinh viên này sẽ còn đòi hỏi làm chuyện gì nữa đây?”. Mới là sinh viên năm thứ nhất mà đã vào làm việc trong phòng Lab với sinh viên học Ph.D. Ông cảm thấy hình như ông cứ phải nghe theo đòi hỏi, ý kiến của cô sinh viên trẻ tuổi này, hơn là giảng dạy, hay ra chỉ thị cho cô ta. Rõ rệt cô sinh viên này là một con người khác lạ với đám đông sinh viên.
MÙA HÈ NĂM ĐÓ,  tại Gerome Institute, cô Holmes làm việc trong những xét nghiệm về bệnh SARS, một căn bệnh gây nhiều tử vong ở Trung quốc. Các xét nghiệm được làm theo lối cổ điển, nghĩa là rút máu vào xi ranh, và lấy nước mũi của người bệnh để xét nghiệm. Những phương pháp này giúp tìm ra ai bị vướng bệnh, nhưng cần một phiả có một hệ thống khác để đưa thuốc vào người bệnh, và sau đó là theo dõi kết quả của việc dùng thuốc. Cô Holmes đặt câu hỏi về hệ thống làm việc. Hồi còn học trong trường Stanford, cô đã được học về một phương pháp gịi là lab-on-a chip technology. Kỹ thuật này giúp đo lường một lượng máu rất nhỏ, một chút nước mũi, và số lượng thuốc cần bỏ vào người bệnh, tất cả cho vào một microchip. Do đó, với hệ thống chemical engineering cô đã học cho thấy người ta có thể làm nhiều việc khác nhau trong một phương pháp thật đơn giản.
Trước khi quanh trở về trường Stanford để tiếp tục học, cô Holmes ứng dụng thử phương pháp này bằng cách làm nhiều xét nghiệm khác nhau với cùng một giọt máu mẫu. Sau đó, gửi kết quả thử nghiệm về cho bác sĩ biết. Muà hè năm đó, cô hoàn tất thử nghiệm của mình, và làm đơn xin “patent” bằng sáng chế về việc làm của mình. Cuối cùng bằng sáng chế này được chấp thuận vào tháng 11 năm 2007. Khi trở lại trường, cô đi gặp giáo sư Robertson và nói với ông rằng cô muốn thành lập một công ty riêng. GS Robertson rất thích thú khi nghe cô trình bầy ý kiến này, song ông muốn cô hảy học cho xong văn bằng cử nhân rồi hãy ra lập công ty.
Cô trả lời: “Tại sao phải chờ? Tôi biết rõ tôi muốn làm gì.”.
Cô Holmes giữ ý định thành lập công ty, và quyết chí theo đưởi đến cùng ý kiến này. Cô suy nghĩ: “Mình đã biết mình sẽ làm gì khi ghi danh học những lớp mình chọn. Cha mẹ đã bỏ tiền cho mình học, tại sao mình không làm gì để kiếm ra tiền đền đáp lại công lao của cha mẹ. Mình sẽ dành toàn thời gian để làm việc này.”. Cha mẹ cô cho phép cô dùng toàn bộ số tiền còn lại trong ngân qũi để dành riêng cho cô theo học. Tháng Ba năm 2004, cô xin rút tên ra khỏi trường Stanford. Một tháng sau, cô thành lập công ty Theranos (danh xưng này kết hợp hai chữ “therapy” và “diagnosis” nghĩa là trị liệu và chẩn đoán). Cô thuyết phục giáo sư Robertson dành ra mỗi tuần một ngày làm cố vấn kỹ thuật cho công ty của cô, và trở thành hội viên đầu tiên trong Hội Đồng Quản Trị của công ty. Cuối cùng thì chính ông cũng xin nghỉ dạy học, làm việc toàn thời gian cho công ty Theranos.
Giáo sư Robertson giới thiệu vài nhà đầu tư tư bản, venture capitalist, những người có khả năng thành lập, và phát triển công ty một cách qui mô. Cô đòi hỏi chỉ dùng những tay venture capitalist nào làm đúng theo điều kiện của cô. Trước hết, cô phải làm chủ, nắm giữ quyền kiểm soát công ty. Điều kiện thứ hai là đem hết tiền lời của công ty trở lại cho công ty để phát triển công ty. Đến tháng 12 năm 2004, cô đã gây dựng được vốn tư bản cho công ty khoảng $6 triệu đô la. Cô làm việc với các nhà hoá học, và các kỹ sư đưa đến năm kết quả như sau:1.) Họ có thể lấy máu không cần ống xi ranh. 2.) Làm chẩn đoán từ vài giọt máu. 3.) Các xét nghiệm được làm bằng máy, tự động để tránh những lầm lẫn do con người gây ra. 4.) Làm xét nghiệm nhanh, rút ra kết quả rất nhanh. Và 5.) Làm việc xét nghiệm tốn kém rất ít.
Chìa khoá chính đem lại sự thành công cho công ty Theranos là việc tuyển dụng Sunny Balwani, một kỹ sư nhu liệu điện toán, năm nay được 49 tuổi. Cô Holmes gặp kỹ sư Balwani lần đầu tiên tại Bắc Kinh khi cô còn đang học lớp 12 bậc trung học. Khi đó, Balwani đang học chương trình MBA của trường Berkeley. Ông từng làm việc cho các công ty điện toán lớn như công ty Lotus, và Microsolf. Ông cũng là mợt doanh nhân rất thành công. Từ năm 2004, ông theo học chương trình cao học về điện toán ở trường Stanford. Balwani và Holmes thường hay thảo luận với nhau, học có chung một niềm tin cho rằng ngành nhu liệu điện toán mới giữ vai trò chủ yếu, không phải ngành hoá học hay ngành sinh vật. Nếu công ty Theranos có thể phân tích vài giọt máu được, thì kỹ sư điện toán phải làm ra được nhu liệu để giúp thực hiện việc này. Từ năm 2009, ông Balwani gai nhập với công ty Theranos, giữ vai trò Tổng Giám Đốc. Ông chủ trương: “Điạ bàn hoạt động của chúng tôi bây giờ là phải tự động hoá chu trình xét  nghiệm máu, tự động hoá từ đầu cho đến cuối.”.
CÔNG TY THERANOS TÌM CÁCH GIỮ BÍ MẬT kỹ thuật của mình trong suốt gần mưới năm, kể từ ngày khai sinh, bởi vì công ty này rất ngại vướng vào những trói buộc rắc rối của luật lệ. Phần lớn các phòng thí nghiệm của hai đại công ty chuyên về xét nghiệm máu, công ty Quest và công ty Laboratory Corporation of America đều được trang bị bằng máy móc do các công ty ở ngoài cung cấp, chẳng hạn như công ty Siemens và Roche Diagnostics. Trước khi những trang thiết bị này đưoợc bán cho phòng thí nghiệm họ đều phải được sự chấp thuận của cơ quan FDA, tức là Cơ quan kiểm soát Thực phẩm và Dược phẩm. Đòi hỏi này của luật lệ khiến cho các kỹ thuật xét nghiệm do công ty làm đều dễ dàng lộ cho công chúng biết. Nhưng trường hợp công ty Theranos thì khác, vì họ làm bằng máy móc riêng của họ, nên họ không cần sự chấp thuận của FDA cho đến khi nào họ bán phòng thí nghiệm  cho công ty khác, hay dọn đi nơi khác. Cô Holmes cho biết công ty Theranos tránh không muốn thảo luận về kỹ thuật riêng của công ty, vì cô sợ sẽ bị lộ bí mật nghề nghiệp cho đối thủ biết.
Công ty hiện nay có 700 nhân viên, chưa kể một trụ sở trung ương ở thành phố Newark, California, mộ cơ sở rộng hơn hai tra7m ngàn thước vuông, chuyên sàn xuất máy móc thử máu. Theo cô Holmes, hiện công ty Theranos đang có dư giả tiền mặt luân chuyển, vì thế chắc chắn công ty sẽ bành trướng lớn hơn. Trong nhiều năm, công ty kiếm lời nhờ làm việc chung với các hãng dược phẩm lớn như Pfizer, GlaxoSmithKline. Họ dùng kết qủa thử nghiệm của Theranos để thực hiện trên các loại dược phẩm còn trong vòng thử nghiệm. Công ty Theranos cũng kiếm khá nhiều tiền nhờ việc ra những trung tâm bảo vệ sức khoẻ “wellness centers” trong các cửa tiệm thuốc Walgreens, những nơi làm việc liên quan đến bệnh viện, và các cơ sở quân đội Hoa Kỳ. Cô Holmes không muốn bàn vào chi tiết những cộng tác với phía quân đội.
Năm 2013, Theranos công bố việc cộng tác lâu dài với hệ thống cửa hàng Walgreens, đưa đến việc thành lập các “wellness centers” tại hầu hết 8200 cửa hàng Walgreens. Cửa hàng Walgreens ở Palo Alto có một trung tâm, và cửa hàng ở Phoenix, Arizona cũng có một trung tâm.. Cô Holmes hy vọng sẽ thiết lập tại mỗi cửa hàng Walgreens hay cửa hàng Duane Reade một trung tâm. Như vậy mọi người Mỹ đều có thể đến Theranos ở gần nhà, trong phạm vi năm dậm đường. Theranos dự tính sẽ ký hợp đồng với hệ thống dược phòng CVS, đối thủ cạnh tranh của Walgreens. CVS có khoảng 7800 cửa hàng.
Một hôm, tôi đi đến tiệm Walgreens ở palo Alto để thử máu. Một nhân viên chuyên môn thoa ngón tay tôi, và cánh tay tôi để giúp máu chạy đều, và chùi ngón tay tôi bằng miếng khăn tẩm alcohol để sát trùng. Sau đó, cô lấy ra một họp dụng cụ nhỏ, gồm một kim chích, và một bình chứa nhỏ bằng đồng 10 xu. Cô lấy hai giọt máu từ đầu ngón tay của toi, bỏ vào bình chứa nhỏ xiú, trên đó có ghi mã số. Bình chứa này được bỏ vào trong mộ họp lớn đông lạnh, chờ người khác đến đem về phòng thí nghiệm của Theranos, cách đó vài dậm. Công ty cử người đi nhận hàng đem về phòng thí nghiệm của Theranos ba lần mỗi ngày.
Phòng thí nghiệm của công ty là một nơi làm việc khá lớn, sặc mùi thuốc sát trùng, nơi đó có nhiều nhân viên cán sự hoá học làm việc bận rộn suốt ngày với hàng trăm dẫy máy móc. Các bình chứa mẩu máu cần thử nghiện được đem về đây. Những công tác của máy làm việc đây là một bí mật chuyên môn mà công ty Theranos giữ kín. Cô Holmes chỉ mô tả một cách chung chung là: “Một loạt các thử nghiệm hoá học được sử dụng để tìm ra những phản ứng, tín hiệu, do hai giọt máu mẫu đem lại. Chúng tôi có thể làm được rất nhiều thử nghiệm với hai giọt máu nhờ kỹ thuật của ngành khoa học tự động, và kỷ nghệ vi tiểu phân tích máu từ đơn vị rất nhỏ.”.
Công ty Theranos thành công cũng một phần nhờ vào uy tín của một hội đồng quản trị gồm nhiều nhân vật nổi danh trong chính quyền. Cựu Ngoại trưởng George Schultz, một cư dân ở Palo Alto, từng phục vụ trong bốn nội các với nhiều chức vụ khác nhau, như  Bộ trưởng Tài Chánh, và Bộ trưởng Ngoại giao. Ông Shultz năm nay được 93 tuổi, và là một học giả của Viện Hoover Institution. Lần đầu tiên cô Holmes gặp ông Shultz vào năm 2011. Cô kể lại là cuộc hẹn dự trù kéo dài chừng 10 phút, rút cuộc trở thành buổi họp kéo dài hai tiếng đồng hồ.
Ông Shultz đồng ý ngồi vào Hội Đồng Quản trị và họp với cô Holmes mỗi tuần môt lần. Ông giới thiệu cô Holmes với một số nhân vật quan trọng khác như bác sĩ Bill Frist một chuyên gia gỉai phẫu tim, và trước đây cũng là một Thượng Nghị Sĩ chủ tịch nhóm thiểu số Cộng Hoà. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger, Thượng Nghị Sĩ Sam Nunn, một TNS Dân chủ từng làm Chủ tịch Ủy Ban Quốc Phòng trong Thượng Viện. Ông William J Perry, cựu Bộ trưởng Quốc Phòng, và ông Richard Kovacevich, cựu Chủ tịch ngân hàng Wells Fargo. Tất cả đều được hưởng thù lao bằng cổ phiếu của công ty Theranos. Ông Henry Kissinger năm nay 91 tuổi, nói với chúng tôi về cô Holmes: “Cô ấy có tinh thần đạo đức làm việc đáng khen, và rất thực tế. Tuy mới chỉ có 19 tuổi, nhưng cô ta hiểu rất rõ công việc của công ty.”.
Hầu hết các vị trong HĐQT đều hài lòng, và thích làm việc với cô Holmes nhờ sự nhiệt tình và duyên dáng của cô. Cô là người chịu khó lắng nghe, và cô sẵn sàng đưa ra những ý kiến táo bạo. Nhân viên dưới quyền rất sợ về phản ứng của cô, không biết lúc nào cô sẽ nổi cơn giận, lớn tiếng. Ông Perry so sánh cô với ông Steve Jobs, chủ nhân công ty Apple như sau: “Nhiều người nói rằng cô là một chủ nhân kiểu ông Steve Jobs, nhưng tôi không đồng ý. Steve Jobs là thiên tài, song ông ta thiếu thái độ nhân ái của cô Holmes. Cô cũng là một thiên tài, song có tấm lòng tốt bao la.”.
Cô Holmes cho biết trong số 12 thành viên HĐQT, cô cố gắng tìm người thuộc nhiều điạ hạt khác nhau. Khi tôi hỏi cô vì sao không có phụ nữ trong HĐQT, cô mỉm cười nói: “Thì có tôi, đại diện cho phụ nữ rồi.”. Thành phần HĐQ được phân chia đồng đều giữa các nhân vật dân cử, công chức liên bang, và viên chức cao cấp trong quân đội. Ngoài TNS Bill Frist là một y sĩ, còn có Bác sĩ William Foege, cựu giám đốc Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Dịch toàn quốc.Cô Holmes còn lập ra một ủy ban đặc nhiệm chuyên phụ trách những vấn đề y khoa, do Bác sĩ David Helfet, Giám đốc trung tâm phục hồi ở bệnh viện New York lãnh đạo. Ông là  y sĩ chuyên chữa trị những trường hợp chấn thương, hôn mê. Tôi hỏi cô Holmes phải chăng HĐQT thành hình như vậy là để tìm kiếm nhiều hợp đồng với chính phủ hay chăng? Cô trả lời: “Chúng tôi không có hợp đồng với chính phủ. Tôi chưa bao giờ xin hợp đồng với chính phủ, và tôi không dự tính làm chuyện đó.”.
 Công ty Theranos thú nhận họ thu hoạch nhiều lợi nhuận nhờ vào quân đội, nhưng cô khẳng định công ty cộng tác với quân đội nhiều chỉ vì công ty Theranos muốn cưú sống nhiều nhân mạng, những chiến sĩ trong  quân đội, chỉ có thế thôi. Cô nói thêm rằng cho đến nay công ty của cô tính tiền rất hạ, thấp hơn mức ấn định của chính phủ rất nhiều. Cô cho rằng người nào nói công ty của cô vận động hành làng để có hợp đồng với chính phủ, đó là một sự lăng nhục, nói xấu không căn cứ. Cô coi những nhân vật trong HĐQT là người cộng tác giúp cô hoạch định sách lược cho công ty. Ông Kovacevich cho biết ông đem lại nhiều mối kinh doanh cho công ty vì ông biết nhiều về hệ thống bán lẻ. Ông nói với tôi: “Tôi quen với hầu hết các CEO của hệ thống bán lẻ.”. Chẳng hạn như các ông Gregory D. Wasson, CEO của hệ thống Walgreens. Tiến sĩ Kissinger khuyên cô Holmes nên tập trung vào việc xây dựng nền móng của công ty ở trong nước Mỹ, sau đó mới đưa sang những nước đang phát triển. Theo ông, làm như vậy để không bị hiểu lầm là chúng ta đem thân xác các nước kém phát triển ra làm vật thí nghiệm.
CÔ HOLMES VÀ HĐQT NHẤN MẠNH ƯU THẾ KỸ THUẬT TỐI TÂN CỦA CÔNG TY, cô so sánh công ty Theranos với các công ty xét nghiệm máu lớn như công ty Quest Diagnostics. Theo cô, kỹ nghệ xét nghiệm máu từ trước đến nay có xu hướng: “độc đoán, ra lệnh cho bá tánh phải làm cái gì, chỉ vì họ có những dàn máy móc vĩ đại.”. Bác sĩ Frist nhận xét: “rõ ràng kỹ nghệ xét nghiệm máu hiện vẫn cố tình muốn duy trì lề lối làm việc cũ. Đó là kỹ thuật cổ lỗ hũ, có từ thời 1940.”.
Ông Nigel Clarke, Giám đốc Nghiên Cứu Khoa Học của công ty Quest không đồng ý với lời chỉ trích của công ty Theranos. Hồi cuối tháng Chín, chúng tôi ghé thăm ông tại trung tâm thí nghiệm của hãng Quest ở gần phi trường Teterboro, New Jersey. Ông cho tôi biết hãng Quest điều hành khoảng 30 phòng thí nghiệm trang bị đầy đủ, ở rải rác trên toàn quốc, thực hiện khoảng 6 triệu cuộc xét nghiệm mỗi năm. Công ty Theranos chỉ đặt mục tiêu thực hiện khoảng 1 triệu xét nghiệm trong năm 2015, và họ có bốn ngàn chiếc xe đi nhận và giao hàng mẫu máu để đem về xét nghiệm. Dàn máy xét nghiệm của Theranos gọn nhẹ, kích thước chỉ bằng một chiếc xe SUV. Ông Clarke thú nhận dàn máy của hãng Quest vào hàng cổ điển của thời 1940, nhưng theo ông dàn máy này rất tốt và quí như những chiếc xe cổ đắt tiền Lamborghini. Ngày nay, công ty chỉ lấy đầy hai ống nghiệm máu là đủ để làm thí nghiệm.
Bác sĩ Frist và cô Holmes khoe rằng việc làm của công ty Theranos được tự động hoá tinh vi, từ giai đoạn lấy máu, đóng dấu mã số, và xét nghiệm, đều được làm bằng máy, tự động, và ở những điạ điểm thuận tiện. Do đó, công chúng không còn e ngại khi cần làm xét nghiệm máu. Hiện nay tỉ lệ người bỏ không làm xét nghiệm máu lên đến 30% hay 40% vì lấy bị lấy nhiều máu bằng kim chích, và phải đến bệnh viện, hay phải đến trung tâm xét nghiệm ở xa nhà. Ông Clarke phản biện rằng thực ra chỉ có khoảng 30% công chúng từ chối không làm xét nghiệm máu. Ông tin rằng lấy máu qua mạch máu chính xác hơn là lấy máu từ đầu ngón tay.
Khi được hỏi về hồ sơ hậu kiểm việc làm xét nghiệm của công ty Theranos, cô Holmes cho biết việc làm của công ty được rất nhiều cơ quan, bệnh viện kiểm tra lại. Họ chấp nhận phương pháp lấy máu ở đầu ngón tay. Hiện nay, Công ty Theranos được 48 tiểu bang cấp giấy phép cho hoạt động, hai tiểu bang còn lại đang chờ cứu xét.
Việc  công ty Theranos từ chối chia sẻ kết quả xét nghiệm, và trình bầy kỹ thuật làm việc của máy xét nghiệm khiến cho cơ quan FDA hoài nghi. Thông thường FDA đòi áp đặt những nguyên tắc cứng rắn nếu một ty xin chấp thuận để bán một loại sản phẩm. Nhưng trong vấn đề xét nghiệm máu việc lấy máu từ ngón tay không bị áp đặt những tiên chuẩn cứng rắn.
Cô Holmes cho biết công ty Theranos sẵn sàng hoan nghênh việc kiểm tra, giám sát của chính phủ. Theo cô việc FDA đóng dấu chấp thuận việc làm của công ty Theranos cho thấy chất luợng tốt của sản phẩm. Tuy nhiên, theo ông Eric Topol, Giám đốc viện khoa học Scripps Translationl Science Institute ở La Jolla, California: nếu như công ty Theranos công khai nói rõ kỹ thuật xét nghiệm của mình hẳn là đồng nghiệp trong ngành cảm thấy thoải mái hơn, và không coi công ty Theranos như một đe doạ.
CÔNG TY THERANOS GÂY QŨI ĐƯỢC HƠN 400 TRIỆU từ nhiều nhà đầu tư khác nhau, trong đó có cả chủ nhân công ty Oracle, ông Larry Ellison. Cô Holmes tin rằng thị trường xét nghiệm máu hiện đang ở mức 75 tỉ đô la, có thể tăng lên đến mức 200 tỉ đô la nếu công chúng được tự ý đi thẳng đến cửa hàng dược phẩm, yêu cầu thử nghiệm máu để biết mức cholesterol có trong máu, biết xem mình có mang thai hay không, và nhiều vấn đề y khoa thông thường khác. Cho đến nay, hầu hết các yêu cầu xét nghiệm máu phải do bác sĩ giới thiệu. Cô Holmes cho rằng điều này sẽ phải thay đổi. Cô cho biết  ở Hoa Kỳ có những tiểu bang  cho phép người dân tự ý đi làm xét nghiệm máu. Song cũng có nhiều tiểu bang cho rằng bất hợp pháp khi có người đòi hỏi tài liệu căn bản về thân thể của họ.
Trong bài thuyết trình của cô Holmes, khi nói về ky thuật làm xét nghiệm, cô Holmes gặp khó khăn khi trình bầy, cô tỏ ra thiếu rõ ràng khi nói rằng công ty Theranos cố gắng đạt nhiều kết quả trong lãnh vực y tế phòng ngừa. Trong lần hội thào của TEDMED, cô nói cho mọi người biết bệnh tiểu đường là một căn bệnh gây tốn tiền y tế rất nhiều, mọi người có thể tránh được bệnh này nếu biết thay đổi lối sống. Tuy nhiên theo cô, hiện đang có khoảng 80 triệu người Mỹ đang ở giai đoạn “pre-diabetic”, sắp bị b5ênh tiểu đường, và có đến 90% số người này không hay biết mình đang ở giai đọan “tiền tiểu đường.”. Họ không biết vì họ không đi khám bác sĩ, hay vì họ không đi làm xét nghiệm máu, hay cả hai. Chính vì vậy, công ty Theranos muốn biên việc xét nghiệm máu trở thành một việc đơn giản, không đau đớn, thành một tài liệu dễ làm để bác sĩ và bệnh nhân dùng nó làm tài liệu để thảo luận, chữa trị.
Cô Holmes khẳng định, công ty Theranos chỉ xin đóng vai trò phụ giúp bác sĩ, không hề có tham vọng thay thế bác sĩ. Cô nói với tôi: “Khi kết quả xét nghiệm cho thấy có điều bất thường, đa số công chúng đều muốn đi chữa bệnh trong người.”. Nhiều người đặt câu hỏi công ty Theranos muốn làm gì?. Chúng tôi chỉ muốn thực hiện một nửa đầu của phương trình, tức là phần khám phá – detection- ra những gì trông thấy trong xét nghiệm máu, phần còn lại là phương pháp trị liệu – therapy- , chúng tôi để cho bác sĩ và bệnh viện.
Thử nghiệm máu không cần toa, hay giấy giới thiệu của bác sĩ, sẽ đưa đến một loạt những câu hỏi như: “Liệu công ty bảo hiểm có chịu trả cho chi phí xét nghiệm máu do bệnh nhân yêu cầu hay không?”. Bác sĩ Bruce Deitchman, một chuyên gia trong Hiệp Hội Y Khoa Mỹ cho rằng công ty bảo hiểm cần phải tra tiền theo tiêu chuẩn của Medicare ấn định. Câu hỏi kế tiếp là liệu công ty Theranos có nhất định đòi bác sĩ phải theo dõi, và cấp cho người bệnh một bản riêng để làm tài liệu hay không? Bác sĩ Deitchman cho rằng bác sĩ là người có trách nhiệm phải theo dõi kết quả thử máu, để chữa trị cho bệnh nhân, và người bệnh cũng nên tham dự, thảo luận việc chữa bệnh của bác sĩ để đem lại kết quả tốt.
Mọt số chuyên gia tin rằng rồi đây sẽ có những thay đổi trong ngành y tế, những gì công ty Theranos tiên đoán là điều không thể tránh được.  Bác sĩ Andy Ellner Giám đốc Primary Care của trường Y Khoa Havard nói: “Bất kể bác sĩ, chuyên viên y tế nghĩ thế nào, song sẽ nhiều thay đổi tương tự xảy ra trong ngành y tế.”. Riêng vấn đề xét nghiệm máu cho bệnh tiểu đường, quả thực đây là điều tốt, song nó không mang tính chất quyết liệt, thiết yếu như mổ tả ở trên. Giá trị đích thực của xét nghiệm máu trong thời kỳ pre-diabetic chẳng qua chỉ để nói với người bệnh rằng ông hay bà đang có vấn đề về mức đường trong máu. Vì vậy, ông bà nên tập thể dục nhiều hơn, và thay đổi cách ăn uống hàng ngày.
Trong lúc theo đuổi thực hiện kế hoạch lâu dài trong tương lai của công ty Theanos, cô Holmes sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách. Trước hết là vấn đề hệ thống cung ứng tiếp liệu. Em trai của cô Holmes, cậu Christian, tốt nghiệp ngành quản trị ở đại học Duke, vào làm cho công ty được ba năm, hiện đang giữ chức giám đốc quản trị bộ phận sản xuất, nói rằng công ty Theranos cần phải làm nhẹ, cắt giảm hệ thống cung ứng tiếp tiệu, nếu không sẽ bị khai tử. Một điểm khác nữa là kỹ thuật “miniaturization” (thử nghiệm vật thể rất nhỏ) hiện đang bị những phát minh mới cạnh tranh gay gắt. Nhiều công ty đang tìm cách làm những xét nghiệm không cần dùng kim chích. Họ sẽ dùng tia lasers, oximetry, biosensor, và medical image ví dụ như máy MRI’s.
Cô Holmes nói rằng cô ý thức rất rõ những khó khăn này, kỹ thuật mới có thể đánh gục công ty Theranos bất cứ lúc nào. Cô nói: “Chúng tôi tập trung rất nhiều vào vấn đề khi nào việc làm của chúng tôi sẽ bị gián đoạn. Thực tế cho thấy ở Silicone Valley này có rất nhiều khám phá mới làm thay đổi cả thế giới. Và chính những khám phá đó một ngày nào đó sẽ bị đào thải.”. 
VÀO MỘT BUỔI XẾ CHIỀU  tháng Chín, cô Holmes lái xe từ Palo Alto lên phi trường San Francisco. Ở đây cô có sẵn một máy bay bảy chỗ ngồi hiệu Gulfstream 150, đưa cô đi Chicago. Đến Chicago, cô sẽ thuyết trình trước một ủy ban, sau đó, cô sẽ bay đi Cleveland để dự phiên họp tại Y viện Cleveland Clinic. Cô Holmes thường đi công tác một mình. Thành viên trong Hội Đồng Quản Trị lo ngại cho cô. Ông Geroge Schultz có lần nói với tôi: “Nhà tôi và tôi nghĩ rằng chúng tôi có trách nhiệm phải mang cô bé này ra khỏi công ty để cô ấy nghỉ ngơi một chút.”. Họ mời cô Holmes đi xem hát, coi phim xi nê, tổ chức sinh nhật 30 tuổi cho cô tại nhà của họ. Hôm đó có cha mẹ cô, cậu em trai, ông Balwani, Giáo sư Roberson và vài thành viên khác trong HĐQT, mang theo các bà vợ đến dự tiệc. Ông Henry Kissinger và bà Nancy vợ ông tìm cách giới thiệu một bạn trai cho cô, nhưng chưa có kết quả. Thân mẫu của cô có ý hơi lo. Bà nói: “Là mẹ của Liz, tôi mong có ngày nào đó cháu sẽ dành ít thì giờ cho riêng mình.”.
Mối lo của bà mẹ bay theo gió khi cô con gái yêu đang bay trên trời cao trên chiếc máy bay riêng. Trên đó, cô ngồi uống nước rau quả màu xanh. Cô nói với tôi: “Tôi đã làm một số việc, đang làm một vài việc, và sẽ làm những việc đem lại ích lợi cho người, cho đời. Tôi thà là sống một cuộc đời có mục đích, hơn là có đủ thứ mà không có mục đích.”. Rồi cô mỉm cười nói với tôi: “Tôi nghĩ tôi vẫn còn trẻ lắm.”
Bài tường thuật của Ken Auletta trên THE NEW YORKER  ngày 15/12/2014
Nguyễn Minh Tâm dịch