Showing posts with label Taì Liệu. Show all posts
Showing posts with label Taì Liệu. Show all posts

Monday, August 6, 2018

Chi tiết 'quy trình' áp tải Trịnh Xuân Thanh ở Slovakia

Cảnh sát hộ tống đoàn quan chức cấp cao Việt Nam ở Slovakia tiết lộ với báo Denník N. của Slovakia rằng ông Trịnh Xuân Thanh đã được áp tải lên máy bay trong tình trạng “vô hồn” giống như say rượu và bị đánh, với hai người xốc nách hai bên.
“Họ nói với chúng tôi rằng ông ta bị say rượu và ngã xuống cầu thang”, cảnh sát nói với báo Denník N. của Slovakia.
Những tiết lộ mới của cảnh sát Slovakia, theo Luật sư của ông Thanh, bà Petra Schlagenhauf, là “mảnh ghép cuối cùng của phần hành trình không tự nguyện” của thân chủ của bà từ Slovakia về Việt Nam, trái ngược với khẳng định lâu nay của chính phủ Việt Nam rằng ông Thanh “tự nguyện” về Việt Nam đầu thú.
Bất thường và khả nghi
Theo tường thuật của báo Dennik N, Trịnh Xuân Thanh, nguyên Chủ tịch HĐQT Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) bị Việt Nam truy nã, đã được đưa tới thủ đô Bratislava của Slovakia trên một chiếc xe van thuê ở Praha. Chiếc xe này đậu phía trước khách sạn Bôrik, nơi diễn ra cuộc họp giữa các quan chức Slovakia với phái đoàn quan chức cấp cao Việt Nam, đứng đầu là Bộ trưởng Công an Tô Lâm.
Cảnh sát Slovakia nói rằng có nhiều tình tiết “bất thường” và “khả nghi” trong chuyến thăm của đoàn Việt Nam. Thông thường, Slovakia không cho người nước ngoài mượn máy bay. Vì vậy, xác nhận của Bộ Nội vụ nước này về việc cho phái đoàn Việt Nam mượn chiếc máy bay của chính phủ vào “phút chót” với lý do “thay đổi nghị trình làm việc đột ngột” là chuyện “cực kỳ bất thường” đối với các cảnh vệ vốn vẫn quen nhận lệnh từ nhiều tuần trước.
Luật sư Petra Schlagenhauf nói với VOA rằng lý do Việt Nam mượn máy bay của Slovakia là “để tránh sự kiểm soát ở biên giới khi ra khỏi các quốc gia thuộc khu vực Schengen”.
Vẫn theo tường thuật của Denník N., Bộ trưởng Tô Lâm đã được đưa đến buổi họp bằng một chiếc limousine, theo sau là một chiếc limousine khác chở các thành viên còn lại của phái đoàn. Hộ tống kèm là 5 chiếc mô tô, một con số được cho là “nhiều bất thường” trong mắt các nhân viên cảnh sát. 
Khi phái đoàn Việt Nam đến nơi họp thì đã có 3 chiếc xe van thuê từ Praha và 1 chiếc Lexus SUV đậu sẵn trong bãi đậu xe của khách sạn, và Trịnh Xuân Thanh được cho là ở trong một trong những chiếc xe này.
“Ông ta bị đánh, bị thuốc, cái nhìn vô hồn. Không một cảnh sát nào biết đến sự hiện diện của ông ấy”, tờ báo của Slovakia tường thuật.
Trong thời gian diễn ra cuộc họp giữa các quan chức Việt Nam và Slovakia, đại diện của Việt Nam đã tiếp cận chỉ huy của đoàn hộ tống, ông Ján H., và yêu cầu ghép thêm một chiếc xe vào đoàn, cũng là một yêu cầu được cho là “bất thường”.
Giải thích chi tiết này, cựu Bộ trưởng Nội vụ Slovakia, Robert Kaliňák nói với báo SME: “Khi một quan chức cấp cao từ một quốc gia châu Á lớn đến thăm, thì điều rất phổ biến là tất cả các quan chức ở các nước láng giềng đều đến bắt tay. Không có gì là khác thường cả. Ngay cả khi có những chiếc xe van ở đó, nó cũng sẽ không gây bất kỳ sự chú ý nào”.
Lúc đầu, phía Slovakia từ chối yêu cầu của Việt Nam, nhưng sau đó đồng ý điều thêm một xe cảnh sát, thay vì ghép chiếc xe khác vào đoàn.
Gây ‘xấu hổ’ vì ‘say rượu’
Khi chiếc xe được điều tới, các cảnh sát hộ tống mới lần đầu tiên trông thấy ông Trịnh Xuân Thanh. Theo báo Denník N, cảnh sát được lệnh chuyển ông Thanh từ chiếc xe thuê ở Czech sang xe cảnh sát, và được cho biết công dân Việt Nam này “bị say và ngã xuống cầu thang” nên “điều quan trọng là phải giữ ông ta khỏi tầm mắt của Bộ trưởng Việt Nam”, vì ông ta đã gây ra tình huống “xấu hổ không thể chấp nhận được khi say xỉn”.
Hai người đàn ông Việt Nam, được cho là mật vụ, lên xe cùng với Trịnh Xuân Thanh và giữ cho ông khỏi ngã.
Đoàn xe ra đến phi trường Slovakia trên đường sang Nga vào lúc 2:29 ngày 26/7/2017 mà không phải qua bất kỳ hệ thống rà soát an ninh nào.
Denník N. cho biết, Bộ trưởng Tô Lâm là người lên máy bay đầu tiên, kế đó là một số người trong phái đoàn, và người cuối cùng là Trịnh Xuân Thanh, được xốc nách đưa lên máy bay trong tình trạng như đang say rượu và cần có người dìu.
Slovakia bác bỏ thông tin
Trong suốt cuộc điều tra vụ bắt cóc ở Đức, một số giới chức Slovakia, trong đó có cựu Bộ trưởng Nội vụ Robert Kaliňák, liên tục bị công luận lên án vì đã “tiếp tay” cho Việt Nam trong vụ bắt cóc.
Lên tiếng trên trang Facebook hôm 31/7, ông Kaliňák nói: “Tôi nhấn mạnh rằng danh sách hành khách [lên máy bay] là do giới hữu trách Việt Nam cung cấp cho chúng tôi, không có tên của công dân phạm tội người Việt, không có một ai bị thương hay bị còng tay”.
Bộ Nội vụ Slovakia nói bài báo của Denník N. là “hoàn toàn vô lý, bịa đặt và dối trá”.
​Trong khi đó, Văn phòng Tổng công tố Slovakia hôm 1/8 nói Đức có quyền tiến thành các thủ tục hình sự liên quan đến vụ bắt cóc, và các cơ quan tư pháp Đức không cung cấp thông tin cho đối tác Slovakia về vụ này.
Là người theo sát những diễn tiến liên quan đến vụ bắt có thân chủ, Luật sư Petra Schlagenhauf nói với VOA: “Những gì cảnh sát Slovakia nói với báo Denník N. đều trùng khớp với tất cả các chi tiết mà các nhà điều tra Đức đã phát hiện cho đến nay. Hơn nữa, lời khai của cảnh sát cho thấy cựu Bộ trưởng Slovakia Kalinak đã không thành thật. Ông ấy chắc hẳn biết chuyện gì xảy ra vào ngày hôm đó (ngày 26 tháng 7) tại khách sạn Borik và sân bay Bratislava”.
Nữ luật sư người Đức của ông Thanh cho đây là một vụ bê bối “gây sốc” vì những gì mà quan chức Slovakia dám làm trong bối cảnh nước này là một thành viên của Liên minh châu Âu. Theo bà, Slovakia nên tiến hành điều tra một cách nghiêm túc để làm rõ trách nhiệm của những người liên quan.
Luật sư Petra Schlagenhauf cũng khẳng định lại phán quyết của Tòa thượng thẩm Berlin hôm 25/7, cho rằng việc ông Trịnh Xuân Thanh bị bỏ tù tại Việt Nam là “bất hợp pháp”. Bà nói bà hy vọng Việt Nam sẽ “cho phép thân chủ của tôi trở về Đức, nơi ông bị bắt cóc” để “xoa dịu” cuộc khủng hoảng quan hệ giữa Việt Nam và Đức vì vụ bắt cóc chấn động này.
Đức đã "tạm ngưng" mối quan hệ đối tác với Việt Nam và trục xuất một số nhà ngoại giao Việt Nam khỏi Đức vì cho rằng vụ bắt cóc vi phạm trắng trợn luật pháp Đức và luật pháp quốc tế.

Thursday, May 17, 2018

Vì sao Jerusalem quan trọng?

Jerusalem là thánh địa quan trọng nhất đối với người Do Thái bởi vì theo Kinh Thánh Hebrew, đây là nơi vua David xây dựng thủ đô của Vương quốc Israel thống nhất và vua Solomon xây Đền Thờ Đầu tiên.
Còn theo Kitô giáo, tại Jerusalem, Chúa Jesus đã bị đóng đinh trên thập tự giá. Trong truyền thống Hồi giáo dòng Sunni đây là thành phố quan trọng thứ ba sau Mecca và Medina bởi theo kinh Koran, Jerusalem là điểm dừng chân trong Hành trình Đêm kỳ bí của Nhà tiên tri Mohammed.
Do đó, thành phố trở thành một thánh địa chung của cả ba tôn giáo nói trên, lưu giữ nhiều di tích tôn giáo và là điểm hành hương hàng năm. Khu vực Thành Cổ của Jerusalem đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 1981.
Theo ước tính độc lập của Viện nghiên cứu Jerusalem, khoảng 850.000 người sống ở Jerusalem, trong đó 37% là người Arab và 61% là người Do Thái. Phần lớn người Palestine sống ở Đông Jerusalem.
Lịch sử căng thẳng xung quanh Jerusalem
Sau Thế chiến II, xung đột giữa cộng đồng người Arab và Do Thái ở Palestine do Anh cai trị ngày càng gia tăng. Liên Hợp Quốc năm 1947 thông qua kế hoạch phân chia lãnh thổ ủy trị Palestine thành hai quốc gia Do Thái (Israel) và Arab (Palestine) riêng biệt. Liên Hợp Quốc trao chế độ quốc tế đặc biệt cho thành phố Jerusalem.
Trong khi kế hoạch ban đầu phân bổ 55% Vùng đất Palestine do Anh cai trị cho Israel và 45% cho người Palestine, cuộc chiến năm 1948 đã giúp Israel kiểm soát 78% đất. 22% còn lại, gồm dải Gaza và Bờ Tây (bao gồm Đông Jerusalem), lúc này được kiểm soát lần lượt bởi Ai Cập và Jordan.Bên Do Thái đồng ý kế hoạch này và thành lập Nhà nước Israel vào tháng 5/1948. Trong khi đó, phe Arab trên toàn khu vực phản đối kế hoạch và tiến hành chiến tranh với Israel năm 1948 - 1949. Israel giành chiến thắng, kiểm soát Tây Jerusalem và nhiều phần đất vốn thuộc Palestine theo phân chia của LHQ. Họ cũng trục xuất nhiều người Palestine ra khỏi những khu vực này.
Năm 1948, các chỉ huy Israel và Jordan vẽ ra một đường phân định và sau này trở thành Đường Đình chiến năm 1949. Một số phần của Jerusalem không nằm trong sự kiểm soát của cả Israel và Jordan. Đường đình chiến 1949 sau này trở thành Đường ranh giới năm 1967 và thường được đề cập trong các cuộc đàm phán giữa hai nhà nước Israel và Palestine.
Năm 1967, Chiến tranh Sáu ngày nổ ra giữa các nước Arab và Israel. Kết thúc cuộc chiến , Israel kiểm soát 22% còn lại gồm Bờ Tây, Đông Jerusalem và Dải Gaza. Israel sau đó sáp nhập Đông Jerusalem. Họ còn chiếm được phần Cao nguyên Golan của Syria và bán đảo Sinai của Ai Cập. (Israel trao trả Sinai cho Ai Cập năm 1979 nhưng vẫn kiểm soát phần Cao nguyên Golan của Syria. Israel năm 2005 rút quân khỏi Gaza).
Phương Vũ

.

8 điều nổi bật về vùng đất thiêng Jerusalem

Mỹ ngày 14/5 khánh thành đại sứ quán ở Jerusalem - thành phố vốn được coi là nơi bắt nguồn của những xung đột dai dẳng tại "chảo lửa" Trung Đông. Israel coi toàn thành phố, bao gồm vùng phía đông nước này chiếm đóng trong cuộc chiến tranh Trung Đông 1967, là thủ đô. Trong khi đó, Palestine coi Đông Jerusalem là thủ đô của nhà nước họ muốn thành lập trong tương lai ở Bờ Tây và dải Gaza.
"Thủ đô vĩnh cửu"
Tel Aviv là nơi đầu tiên mà Nhà nước Israel đặt chính quyền. Kế hoạch Phân chia của Liên Hiệp Quốc năm 1947 đã đề nghị tách "lãnh thổ ủy trị Palestine" từng thuộc Anh thành ba thực thể: một nhà nước Do Thái, một nhà nước Arab và trao chế độ quốc tế đặc biệt cho thành phố Jerusalem. Năm 1948, người Do Thái tuyên bố thành lập Nhà nước Israel độc lập và đặt thủ đô ở Tây Jerusalem, còn Đông Jerusalem lúc đó nằm dưới sự kiểm soát của Jordan.
Thời điểm này, Tây Jerusalem chìm trong xung đột nên không thể được sử dụng làm nơi diễn ra các hoạt động như một thủ đô. Tuyên ngôn thành lập Nhà nước Israel ngày 14/5/1948 ở Tel Aviv cũng không đề cập tới Jerusalem.
Thủ tướng đầu tiên của Israel David Ben-Gurion đã chỉ thị quốc hội chuyển giao các hoạt động tới Jerusalem vào tháng 12/1949, sau khi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bắt đầu tranh luận về cách thực hiện kế hoạch phân chia khu vực này. Dựa theo một trích dẫn có niên đại 3.000 năm của người Do Thái ở Jerusalem, ông Ben-Gurion tuyên bố Jerusalem là một phần không thể tách rời của Nhà nước Israel và là thủ đô vĩnh cửu của nước này.
Vị trí của Jerusalem. Đồ họa: Straits Times.
Trung tâm tôn giáo
Jerusalem là thánh địa quan trọng nhất đối với người Do Thái bởi vì theo Kinh Thánh Hebrew, đây là nơi vua David xây dựng thủ đô của Vương quốc Israel thống nhất và vua Solomon xây Đền thờ Đầu tiên.
Còn theo Kitô giáo, tại Jerusalem, Chúa Jesus đã bị đóng đinh trên thập tự giá. Trong truyền thống Hồi giáo dòng Sunni, đây là thành phố quan trọng thứ ba sau Mecca và Medina bởi theo kinh Koran, Jerusalem là điểm dừng chân trong Hành trình Đêm kỳ bí của Nhà tiên tri Mohammed.
Do đó, thành phố trở thành một thánh địa chung của cả ba tôn giáo nói trên, lưu giữ nhiều di tích tôn giáo và là điểm hành hương hàng năm. Khu vực Thành Cổ của Jerusalem đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 1981.
Kế hoạch của Israel
Theo một báo cáo được Israel công bố cuối tuần qua, cơ quan giám sát đã chỉ trích chính phủ nước này vì đã không thực hiện các kế hoạch được thông qua từ năm 2005 để thiết chặt kiểm soát với Jerusalem.
Mục tiêu của kế hoạch này là di chuyển khoảng 140 chi nhánh của 25 bộ và cơ quan chính phủ đến Jerusalem, cùng với 2.700 nhân viên. Các cơ quan này bao gồm văn phòng thủ tướng và các Bộ Y tế, Tài chính, Giao thông vận tải, Văn hóa và Thể thao, Giáo dục và Phúc lợi. Quyết định này đã được đưa ra cách đây 11 năm.
Thời hạn triển khai đặt ra lúc đó là năm 2015 nhưng sau đó bị lùi lại tới năm 2019. Theo thẩm phán đã nghỉ hưu Yosef Shapira, Israel có thể không thực hiện kịp tiến độ này.
Ai sống ở Jerusalem?
Jerusalem là thành phố lớn nhất ở Israel với dân số khoảng 900.000 người. Người Do Thái chiếm 62,3%, giảm 7,2% so 20 năm trước đây. Trong khi, dân số Palestine đã tăng từ 30,5% năm 1998 lên 37,7%. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, Do Thái vẫn là nhóm tôn giáo lớn nhất ở Jerusalem trong suốt 150 năm qua.
Sau khi chiếm được Đông Jerusalem trong cuộc chiến năm 1967, Israel đã tăng cường việc xây dựng nhà ở cho người Do Thái trong vùng đất mới giành được, nơi phần lớn thế giới coi là bị Israel chiếm đóng. Hiện có khoảng 200.000 người Do thái Israel đang sống trong những khu dân cư hoặc khu định cư, cùng với ít nhất 320.000 người Palestine.
Đa số những người Palestine sống ở Đông Jerusalem được coi là thường trú nhân của Israel, có thể làm việc ở bất cứ nơi nào trong nước này, đồng thời được hưởng lợi ích xã hội của Israel. Tuy nhiên, họ không được công nhận là công dân đầy đủ. Người Palestine có thể nộp đơn xin nhập quốc tịch Israel nhưng rất ít người làm điều này vì lý do chính trị và thậm chí cũng khó được chấp thuận.
Căng thẳng
Ngày Mỹ khai trương Đại sứ quán ở Jerusalem trùng với kỷ niệm 70 năm thành lập của Israel 15/5. Người Palestine gọi là ngày này là "nakba" hay "thảm họa", ám chỉ việc hàng trăm nghìn người bỏ trốn hoặc bị trục xuất khỏi nơi ngày nay là Israel vào năm 1948.
Cuối năm 1949, khoảng 40 ngôi làng Palestine ở khu vực Jerusalem, với tổng dân số hơn 70.000 người, đã bị chiếm đóng. Theo Tổ chức Giải phóng Palestine - bên được liên đoàn Arab coi là đại diện chính thức cho Nhà nước Palestine, khoảng 45.000 người Palestine đã mất nhà cửa ở các khu vực đô thị phía tây thành phố.
Khoảng cách kinh tế
Khoảng 76% người Palestine ở Đông Jerusalem đang sống dưới mức nghèo khổ so với khoảng 23% người Do Thái. Thu nhập trung bình hàng tháng của người dân ở các khu phố Arab thấp hơn 40% so với các khu phố của người Do Thái.
Diễn biến ngoại giao
Vào những năm 1960 -1970, khoảng 18 đại sứ quán nước ngoài đặt ở Jerusalem, chủ yếu là của các nước châu Phi và châu Mỹ Latin. El Salvador và Costa Rica là hai nước cuối cùng rời đại sứ quán khỏi Jerusalem và mở lại các đại sứ quán ở Tel Aviv vào năm 2006. Hiện tại, Guatemala và một số quốc gia khác đã quyết định theo chân Mỹ chuyển đại sứ quán từ Tel Aviv về Jerusalem.
Đội bóng mang tên Trump
Một trong những câu lạc bộ bóng đá xuất sắc nhất tại Israel là đội Beitar của Jerusalem vừa tuyên bố sẽ thay đổi tên thành Beitar "Trump", để ghi nhận đóng góp của Tổng thống Mỹ Trump với quê hương họ. "Ông đã thể hiện lòng dũng cảm, tầm nhìn và tình yêu đích thực cho người dân Israel và thủ đô", câu lạc bộ bóng đá ra tuyên bố.
Hy An

Thursday, September 7, 2017

Xung quanh chiếc xe bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Ngày 31 tháng 8 cảnh sát Đức gọi điện cho anh Bùi Quang Hiếu, chủ chiếc xe ô tô đã được những kẻ bắt cóc dùng trong vụ Trịnh Xuân Thanh.
Anh Bùi Quang Hiếu là chủ doanh nghiệp dịch vụ cho thuê xe, tổ chức sự kiện. Chiếc xe của anh cho một người đồng hương tên là Nguyễn Hải Long thuê. Vào dịp thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến Đức, Nguyễn Hải Long đã thuê trước xe này và theo lộ trình ghi lại thì chiếc xe đã sử dụng ở Berlin trong quãng thời gian Nguyễn Xuân Phúc công cán ở đây.

Hiện nay Nguyễn Hải Long đang bị cảnh sát Đức băt giam và khởi tố về tội làm gián điệp và bắt cóc người. Phía chính phủ Việt Nam không lên tiếng gì về vụ bắt giữ này.

Ngày 1 tháng 9 năm 2017, anh Bùi Quang Hiếu chủ xe đã cùng ba người bạn từ Praha đến Berlin để nhận lại chiếc xe từ cảnh sát Đức. Đáng chú ý khi trao trả chiếc xe, những ghi chú, đánh dấu và băng niêm phong còn nguyên. 

Anh Bùi Quang Hiếu cho biết, trước xe bị giữ từ ngày 28 tháng 7.

Ngày 30 tháng 7 nhà báo Huy Đức đưa tin trên Facebook mình về việc Trịnh Xuân Thanh đã trở về gây xôn xao dư luận, tiếp đến bộ trưởng công an Tô Lâm nói không hay biết gì về vụ này. Đến ngày 2 tháng 8 thì các báo đưa tin Trịnh Xuân Thanh về đầu thú.

Báo chí Đức đưa tin và chính phủ Đức đưa ra lời cáo buộc phía Việt Nam bắt cóc và đề nghị đưa Trịnh Xuân Thanh trở lại Đức nguyên trạng.

Những dư luận viên của cộng sản Việt Nam cho rằng cảnh sát Đức quá kém cỏi, không biết gì, đến khi báo chí Việt Nam đưa tin thì nước Đức mới biết và phản ứng.

Nhưng căn cứ vào ngày cảnh sát Đức tìm đến chiếc xe, cho thấy họ đã điều tra vụ việc từ rất sớm trước khi dư luận Việt Nam phong phanh tin Trịnh Xuân Thanh bị bắt về Việt Nam. 

Trên trước xe mà cảnh sát Đức trao trả lại cho chủ xe Bùi Quang Hiếu còn có những vệt máu lớn mà cảnh sát đánh dấu, cũng như những vết cào cấu trên đệm xe đều được đánh dấu. Đây là chiếc xe mà hàng ghế sau có thể quay lại đối diện nhau, rất thích hợp cho việc khống chế bắt giữa. Tính cả người lái chiếc xe có 6,7 ghế ngồi, một ghế lái và cạnh lại và hai ghế hàng thứ hai, ba ghế hàng thứ ba. Vị trí Trịnh Xuân Thanh ngồi ở giữa hàng ghế thứ ba. Hai bên là hai mật vụ, trước mặt là hai mặt vụ. Tức có 4 người khống chế Trịnh Xuân Thanh trên xe. Người ngồi ở ghế cạnh lái xe chắc chắn phải là một người Việt sống ở Đức, thông thạo tiếng Đức để đưa đường chỉ lối.

Như vậy còn có thêm một chiếc xe nữa để đưa Đỗ Minh Phương lên đó. Đỗ Minh Phương là bạn gái Trịnh Xuân Thanh làm việc ở Bộ Công Thương. Trước đây công ty mà Thanh quản lý trực thuộc bộ này.

Chiếc xe bắt giữ Trịnh Xuân Thanh theo thiết bị theo dõi lộ trình cho biết đã đậu ở khu vực khách sạn mà Đỗ Minh Phương trú vài ngày. Ngoài những dấu vết trên xe do vật lộn và một hộp thuốc mê dạng tẩm vào khăn ấp lên mặt cảnh sát Đức còn có những nhân chứng chứng kiến xô đẩy, gào hét của vụ bắt cóc, đặc biệt giờ họ có thêm một tòng phạm là Nguyễn Hải Long. 

Cảnh sát Đức đã tế nhị để lại những vết đánh dấu trên chiếc xe khi trao trả, một thông điệp đến những kẻ bắt cóc.

Việc này dẫn đến câu hỏi hoài nghi, tại sao những kẻ bắt cóc lại sơ hở khi để lại dấu vết như vậy. Chúng cố tình để lộ hay chúng quá sơ hở.?

Những kẻ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh chỉ tập trung vào duy nhất một nhiệm vụ, bắt bằng được Trịnh Xuân Thanh và đưa về Việt Nam bằng mọi giá như chỉ đạo của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Việc để lại dấu vết không quan trọng bằng việc đưa được Trịnh Xuân Thanh về nước. Theo dõi những trao đổi của Thanh với Phương qua internet, chúng biết được ngày hẹn gặp và đã thuê xe trước đó để thực nghiệm địa hình. Khi yêu cầu của Nguyễn Xuân Phúc đề nghị chính thức khi gặp chính phủ Đức không thành, lệnh bắt cóc được ban ra để trả đũa nước Đức đã từ chối yêu cầu của Phúc. Những mật vụ đi theo Nguyễn Xuân Phúc đã được nhận lệnh thực hiện phương án hai, tức tổ chức bắt cóc ngay lập tức Trịnh Xuân Thanh. Tức việc bắt cóc này là phương án dự phòng sẽ thực hiện nay khi phương án đề nghị của Nguyễn Xuân Phúc bị bác bỏ.

Vì chỉ cần đạt được mục tiêu bắt cóc Trịnh Xuân Thanh đưa về, những kẻ thực hiện vụ bắt cóc khi xong việc, đã giao lại xe cho Nguyễn Hải Long mà không thèm để ý đến dấu vết trên xe để xoá, thậm chí chúng không ngần ngại đưa thẳng xe chở Trịnh Xuân Thanh vào đại sứ quán Việt Nam tại Berlin để làm thực hiện một số việc hỗ trợ đưa Thanh về. Những kẻ tham gia bắt cóc đã ở một khách sạn Sylte Hof tại đường Kurfürstenstraße.

Cảnh sát Đức đã có hình ảnh rõ về những đối tượng tham gia vụ bắt cóc này từ các camera của khách sạn, các nhân viên khách sạn cho biết trong số ba kẻ bắt cóc trú tại khách sạn chỉ có một người nói được chút ít tiếng Anh.

Những hành động trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh cho thấy phía Việt Nam không thèm đếm xỉa gì đến phía Đức. Sự coi thường này cũng như sự coi thường của phía Việt Nam với các nước phương Tây trong nhiều vụ việc khác. Là một nước nhỏ lại theo chế độ cộng sản, bản chất luôn đối nghich với các nước phương Tây vì hệ thống chính trị, lệnh lại thực hiện từ tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng người đứng đầu đảng CSVN, vốn dĩ không ưa gì phương Tây, nên những người tổ chức bắt cóc thấy không cần thiết phải quan tâm phía Đức sẽ phản ứng gì. Nếu sự vụ mà đụng chạm đến Trung Quốc thì mọi việc sẽ đắn đo từng câu chữ hay cử chỉ vì e ngại mất lòng, nhưng với phương Tây thì đảng CSVN không nhất thiết phải quá chú trọng giữ gìn quan hệ.

Thái độ sau vụ bắt cóc cho thấy Việt Nam bất cần , họ làm ngơ trước những đòi hỏi của Đức cũng như những cáo buộc bắt cóc. Không những thế họ còn cho dư luận viên tung ra những bài viết kích động thù hận nước Đức, miệt thị nước Đức trên mạng xã hội và điển hình là tờ báo Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh.

Phía Đức đang kiên trì điều tra và củng cố thêm chứng cứ của vụ bắt cóc cũng như kiên nhẫn chờ đợi chính phủ Việt Nam có câu trả lời chính thức xác nhận hành vi phạm pháp của mình trên đất Đức. Chính phủ CSVN đã từng coi thường và bất cần những vụ va chạm về pháp lý như vậy, để rồi sau đó trả giá đắt như vụ kiện của Việt Kiều Hà Lan Trịnh Vĩnh Bình hay doanh nhân người Ý kiện hãng hàng không Việt Nam. Nguyên nhân cũng tại tư duy nhiệm kỳ, hậu quả nặng nề từ những coi thường pháp lý quốc tế không đến ngay. Chính vì thế những lãnh đạo CSVN họ làm ngơ có gì những người kế nhiệm sau sẽ xử lý. Ở đôj tuổi 73 và quãng thời gian ngắn còn lại trong nhiệm kỳ thứ hai là Tổng Bí Thư đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng không việc gì phải xuống nước để mất danh dự. Ngược lại y sẽ kiên quyết giữ và đưa Trịnh Xuân Thanh ra xét xử để thể hiện quyền uy của mình. Việc trao trả Trịnh Xuân Thanh bây giờ rất mạo hiểm đối với uy tín của Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Xuân Phúc, hai kẻ chủ mưu trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh.

Nước Đức có hàng trăm ngàn người Việt sinh sống cũng như nhiều tài sản , chương trình giáo dục , y tế, môi trường, văn hoá của Việt Nam gắn bó tại đây. Sự lặng thinh làm ngơ của chính phủ Việt Nam trước cáo buộc của Đức sẽ tiềm ẩn mối thiệt hại lớn khó lường sau này đối với nhân dân và đất nước Việt Nam. Những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam nếu thực sự vì đất nước cần phải có những trả lời rõ ràng mang tính hợp tác với ý kiến của chính phủ Đức. Không thể vì uy tín cá nhân, quyền lực của mình mà đánh đổi lấy những hậu quả khôn lường nhân dân và đất nước phải gánh chịu. Quan hệ ngoại giao Việt Đức do nhiều người Việt Nam, nhiều lãnh đạo Việt Nam phải mất nhiều năm xây đắp mới có được như ngày nay. Nó là một tài sản vô giá, những con người như Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc chỉ nhất thời dùng thủ đoạn mà chiếm quyền lãnh đạo đất nước trong quãng thời gian có hạn.

Những kẻ như Trọng, Phúc không có quyền được đánh đổi những tài sản vô giá như quan hệ ngoại giao với Đức bằng những hành động ngu xuẩn để đổi lấy uy tín cho cá nhân mình.Nhân dân Việt nam cần lên án và đòi hỏi những kẻ cầm quyền, phải chấm dứt thói kiêu ngao, háo danh, bệnh thành tích của lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Không thể cứ mỗi lần một lãnh đạo lên lại sẵn sàng gây thiệt hại cho đất nước chỉ cần giữ được quyền lực của mình. Không thực hiện những công trình vô bổ, lãng phí thì cũng thực hiện những chính sách bóc ngắn cắn dài lấy thành tích là căn bệnh trầm kha mà hầu hết lãnh tụ cộng sản nào ở Việt Nam cũng đều mắc phải, chính căn bênh này đã huỷ hoại đất nước và con người Việt Nam, ngăn chặn sự phát triền của dân tộc. 

Tất cả chỉ vì những kẻ cầm quyền bên ngoài nói là công bộc của dân, nhưng thực chất cả chúng và nhân dân đều tin chắc chúng là ông chủ của dân. Trên cơ sở tư duy ấý, chúng thả sức đem tài sản, tính mạng nhân dân ra dổi chác với cho những mục tiêu cá nhân của chúng mà còn được tung hô, ca ngợi.

Khi phát hiện ra chiếc xe sang biển xanh ở Hậu Giang, Nguyễn Phú Trọng lần ra vụ 3200 tỷ tức khoảng 140 triệu usd bị thất thoát. Nhưng khi người Đức phát hiện ra chiếc xe bắt cóc chủ cái xe siêu sang kia, Việt Nam sẽ mất bao nhiêu triệu usd sẽ là điều đáng phải nói. 

© Người Buôn Gió

Saturday, June 20, 2015

Nỗi Niềm Quốc Hận

I- Một số bối cảnh lịch sử có liên quan đến bài viết: 
- Vua Lê Thánh Tông mở mang bờ cõi: Năm 1471, vua Chiêm Thành là Trà Toàn, đem quân đánh phá Hoá Châu. Vua Lê Thánh Tông thân chinh, tiến quân đánh tới Đồ Bàn, bắt được Trà Toàn. Tướng Chiêm là Bồ Trì chạy đến đất Phan Lung, sai sứ nạp cống và xưng thần. Lê Thánh Tông chấp thuận và muốn làm cho nước Chiêm Thành yếu đi, nên đem chia thành 3 tiểu quốc: Chiêm Thành, Nam Hoa (nay Phú Yên) và Phan Lung (nay Phan Rang). Miền Bắc Tây Nguyên là hai tỉnh Kon Tum và Pleiku (Gia Lai ngày nay) được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương. Còn đất Đồ Bàn, Đại Chiêm và Cổ Luỹ, vua lấy để lập thêm đạo Quảng Nam, gồm có 3 phủ, 9 huyện, rồi đặt quan cai trị. 
Từ giây phút này, Việt Nam tan hoang… Photo courtesy: www.telegraph.co.uk
- Vua Quang Trung lo lường đất nước: Vua Quang Trung cho vẽ lại bản đồ Việt-Hoa để rửa hận nghìn thu là đất đai Đại Việt bị mất vì phương Bắc xâm lấn. Việc này có thể xảy ra việc binh đao, nên nhà vua tính chuyện đánh Thanh, đã cho quấy rối nội địa Trung Hoa bằng cách lợi dụng (giúp) đảng “Thiên Địa Hội” là những chí sĩ của nhà Minh thuộc giống Hán không phục triều Thanh, bí mật tổ chức tính xoay lại thời thế. Các biên thần nhà Thanh tuy biết Đại Việt đã bí mật nhúng tay, nhưng cũng phải bấm bụng chịu, vì thấy lực lượng quân sự nước ta đang phát triển mạnh. Nhưng ngày 29 tháng 7 năm Nhâm tý (16-9-1792 DL), vua Quang Trung đột ngột băng hà nên công cuộc phát triển đất nước đành dở dang?! 

- Tỉnh Lai Châu gộp vào Hoàng triều cương thổ: Tỉnh Lai Châu có diện tích 18.630 km vuông. Dân số năm 2011 là 926.500 người. Sắc dân: Kinh, H’ Mông, Thái, Dao... Tỉnh Lai Châu thuộc vùng tây bắc nước Việt Nam, phía bắc giáp nước Tàu (tỉnh Vân Nam). Năm 1948, Lai Châu thuộc Khu tự trị Thái trong Liên bang Đông Dương, đến năm 1950 thì gộp vào Hoàng triều cương thổ của Quốc trưởng Bảo Đại. Tỉnh Lai Châu vào ngày 26-11-2003, tách ra làm 2 tỉnh là: Tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên ngày nay. 
- Diễn tiến vùng đất Tây Nguyên và tổ chức Fulro: Cao nguyên Trung phần Việt Nam còn gọi là Tây Nguyên, ngày nay gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Vùng đất Tây Nguyên ngày xưa vốn là vùng đất tự trị, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh, mạnh nhất là bộ tộc người Gia Rai với các vị tiểu vương Thủy Xá, Hỏa Xá;  thỉnh thoảng họ bị vương quốc Champa ở phía đông và Chân Lạp ở phía tây tấn công cướp bóc và bắt nô lệ, có lúc một phần đất của Tây Nguyên thuộc về Ai Lao. Bộ tộc ở Tây Nguyên có khi triều cống chúa Nguyễn Đàng Trong. Đến năm 1830, vua Minh Mạng cho sáp nhập vùng đất Tây Nguyên vào bản đồ Đại Nam. Ngày 27-5-1946, Cao ủy Đông Dương là Georges d’Argenlieu ký văn bản thành lập “Xứ Thượng Nam Đông Dương” (Pháp gọi là: Pays Montagnards Du Sud Indochinois: PMSI), xem như người Thượng Tây Nguyên được tự trị. Đến thời Quốc gia Việt Nam, Xứ Thượng Nam Đông Dương được trao lại cho Quốc trưởng Bảo Đại dưới tên gọi Hoàng triều Cương thổ. Thời Thủ tướng Ngô Đình Diệm lại sát nhập: Đồng Nai Thượng, Lang Biang, Pleiku, Darlac, và Kontum vào Trung phần Việt Nam.
Vùng Tây Nguyên có tổ chức FULRO là tên gọi tắt của tiếng Pháp: “Front Uni de Lutte des Races Opprimées”, có nghĩa là “Mặt trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức”. FULRO muốn vùng đất Tây Nguyên gồm các nơi: Pleiku, Kon Tum, Đà Lạt, Đăk Lăk, Lâm Đồng được tự trị, nên chống lại chính quyền từ thời VNCH và đã ngấm ngầm cho đến ngày nay. Theo đài BBC trong bài “Nhìn lại phong trào BAJARAKA”: Năm 1957 một số trí thức người Thượng đã phản đối chính sách phân biệt đối xử người Thượng trên cao nguyên với chính quyền. Đến năm 1958, họ thành lập tổ chức BAJARAKA, đấy là chữ viết tắt của tên bốn dân tộc chủ yếu tại Tây Nguyên: Bahnar (người Ba Na), Djarai (người Gia Rai), Rhadé (người Ê Đê) và Kaho (người Cờ Ho), họ vận động dân chúng Thượng chống lại chính quyền miền Nam (Hết trích). Cờ FULRO hình chữ nhật gồm ba sọc màu xanh biển (tượng trưng biển cả), màu đỏ (biểu tượng đấu tranh) và màu xanh lá cây (màu của rừng núi). Trên sọc màu đỏ có ba ngôi sao màu trắng tượng trưng cho ba mặt trận của Fulro là: Champa, Thượng và Campuchia Krom. Năm 1979, Fulro nhờ Sư đoàn 920 của Pôn Pốt đóng tại tỉnh Mondunkiri (Campuchia). Được Pôn Pốt yểm trợ, Fulro đã đưa khoảng 200 người có khả năng sang lập căn cứ tại biên giới Việt-Miên để huấn luyện, nhận vũ khí và thiết lập hành lang Tây Nguyên-Campuchia. Sau đó, các thành viên Fulro đột nhập vào các thành phố, thị xã của các tỉnh Tây Nguyên, để khủng bố, ám sát cán bộ rồi rút sang bên kia biên giới.
II- Gậy ông đập lưng ông:  
- Công hàm hàm hồ của thủ tướng Phạm Văn Đồng là thủ tướng miền Bắc VN: Công hàm ký ngày 14-9-1958, để phúc đáp tuyên bố của Trung cộng vào ngày 04-9-1958, Trung cộng coi đấy là “cơ sở pháp lý” hậu thuẫn cho lý lẽ của họ trong việc tranh chấp biển đảo ở biển Đông với Việt Nam. Chính quyền Hà Nội chỉ còn bám víu vào VNCH là vào thời điểm ấy vùng biển đảo này thuộc về miền Nam Việt Nam mà thôi?! 
- Bô xít Tây Nguyên và vụ cấm đạo tại Tây Nguyên:Chính quyền CSVN để Tàu khai thác bô xít và cấm đạo tại Tây Nguyên, đã gây cho người dân Tây Nguyên giận dữ và oán hận, nếu có cơ hội thì họ sẽ bùng phát rất dữ dội, như lực lượng FULRO vẫn còn ngấm ngầm.  
- Đông đảo đồng bào H’Mông phản đối CSVN: Đất nước đang gặp khó khăn vì chính quyền cộng sản Việt Nam (CSVN) thiếu sáng suốt đã dùng điều 258 Bộ luật Hình sự, là điều luật thường được sử dụng để đàn áp quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng của toàn dân Việt Nam. Gần đây đã dùng điều 258 buộc tội nhiều người H’ Mông, vì vậy vào ngày 20-03-2014, cả 1000 đồng bào H’Mông đã kéo về tòa án ở Hà Nội để đòi tự do cho các bị can?!
Đất nước Việt Nam đang gặp khó khăn chồng chất, thế mà chính quyền Hà Nội lại không chịu sửa sai, vẫn dùng lối cai trị “Hà chính mãnh ư hổ” (chính sách hà khắc khốc hại hơn hổ), thì chế độ này chắc chắn sẽ phải xung đột tàn khốc, quyết liệt giữa toàn dân Việt Nam và chính quyền (công an) mà thôi!  
  
III- Khi xung đột đồng loạt, quyết liệt giữa toàn dân và chính quyền (công an) thì hiện tượng nào có thể xảy ra: 
Chúng ta thử suy nghĩ trong khi và sau khi chế độ CSVN sụp đổ thì những hệ lụy nào sẽ xảy ra trên đất nước và dân tộc Việt Nam là điều nên suy nghĩ kỹ?! 
- Trong số các nhân vật Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta có thể tin tưởng có bao nhiêu nhân vật còn nghĩ đến đồng bào, đất nước và có bao nhiêu nhân vật chuẩn bị khi có biến cố lớn thì sẽ lộ nguyên hình Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... đấy là những tên mãi quốc cầu vinh, sẽ khom lưng cúi đầu cầu xin quân đội của Trung cộng sang nước ta để khống chế nhân dân ta đang đòi công lý, tự do, nhân quyền...?! 
- Dù rằng kể từ tháng 2-1999, Giang Trạch Dân của Trung cộng đã tròng được vào đầu Lê Khả Phiêu cũng như các nhân vật đang lãnh đạo CSVN cái vòng kim cô bằng 16 chữ mạ vàng “Sơn thủy tương liên; Lý tưởng tương thông; Văn hóa tương đồng; Vận mệnh tương quan” (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Nhưng lòng tham của Trung cộng vẫn chưa chịu ngừng ở đó, mà muốn chiếm trọn lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam, giai đoạn đầu chúng đưa người đến VN chiếm lĩnh nhiều vùng đất quan trọng như: Tây Nguyên (Bô xít Đắc Nông), Hà Tỉnh (phố Tàu huyện Kỳ Anh), Quảng Trị (Cửa Việt)... đấy là đạo quân xâm lăng không tiếng súng hay cuộc xâm lược mềm. Mưu mô quỷ quái này, chính quyền Tàu cộng đã/đang cho tiến hành khắp lãnh thổ Việt Nam, được sự tiếp tay của những thái thú Tàu gốc Việt tại Hà Nội?! 
- Mong mỏi người Việt lưu ý, Trung cộng cố tình đầu tư vào huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) và Cửa Việt (Quảng Trị) là có ý đồ chiếm giữ nơi hiểm yếu, nơi hẹp nhất ở giữa nước VN; địa hình rõ ràng ở giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị là tỉnh Quảng Bình, mà ở tại thành phố Đồng Hới khoảng cách từ bờ biển đến biên giới nước Lào chỉ có 50 km. Nên khi Trung cộng phát động xâm lăng VN, quân Tàu từ biển tiến vào từ Lào đánh xuống, sẽ cắt nước ta làm hai để khống chế dễ dàng?! 
IV- Tình huống và mưu mô của Trung cộng xâm lăng VN bằng cách nào?!: 
Một khi toàn dân VN đồng loạt vùng dậy lật đổ chế độ độc đảng độc tài, thì các nhân vật như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... sẽ xuất hiện, từ các nhân vật đầu não trong trung ương đảng CSVN, sẽ qua Tàu cầu cứu quân Tàu sang VN đàn áp nhân dân ta, để chúng giữ lại cái ghế thái thú mà chúng cho là béo bở?! Quân Tàu luôn sẵn sàng và hăm hở tiến qua nước ta là vì sao, là vì Tàu cộng mong muốn chiếm VN hơn bất cứ nước nào, vì nước VN nằm sát nước Tàu sẽ xóa biên cương dễ dàng, vì VN có biển Đông rộng mênh mông mà ở đấy có dầu khí dồi dào, mà ở đấy Tàu cộng đang khao khát làm chủ biển Đông, Thái Bình Dương, để đủ khả năng cân bằng tiềm lực hải quân với Hoa Kỳ. Nên VN đối với ý đồ tham lam và bành trướng của Tàu thì quan trọng hơn khu tự trị Tân Cương hay Tây Tạng mà Tàu đã chiếm được. Đúng như nhà Thái dịch Lý Đông A đã thiết tha nhắn nhủ đồng bào: “Chúng ta hãy quay về mình xem hình thể của tự mình. Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về tự thủ muôn thuở, bất cứ trên chính trị, quân sự, kinh tế, chiến lược, văn hóa đều đứng vào thiên hiểm của trung tâm”. Dù không có Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống (thời nay) qua cầu cứu Tàu, Tàu cũng đã/đang rình rập xâm lăng VN, với mưu mô gian dối là đem quân để bảo vệ Hoa Kiều tại Việt Nam khi có biến cố, như đầu sỏ Putin của Nga đã chiếm bán đảo Crimea.
Khi có cơ hội, có thể chính quyền Tàu sẽ giúp cho lực lượng FULRO ở Tây Nguyên, giúp người H’Mông người Thái ở tỉnh Lai Châu và các tỉnh miền cao nguyên vùng Việt Bắc, mà các sắc dân này đã/đang căm hận CSVN vì đã đàn áp và bóc lột họ. Quân Tàu muốn làm sao cho VN yếu đi, như vua Lê Thánh Tông đã làm cho nước Chiêm Thành yếu đi, bằng cách đem chia thành 3 tiểu quốc: Chiêm Thành, Nam Hoa và Phan Lung. Và như vua Quang Trung đã lợi dụng (giúp) đảng “Thiên Địa Hội” của bọn quan lại cũ nhà Minh để quấy rối nội địa Trung Hoa mà nhà Thanh đang cai trị.  
Quân Tàu làm vậy với mục đích là gây cho chính quyền thái thú bị rối ren để quân xâm lược Tàu cai trị trực tiếp các vùng đất này, trước khi xâm chiếm toàn bộ nước ta và sai khiến chính quyền thái thú dễ dàng hơn! Nếu cần, quân Tàu sẽ cho bỏ phiếu lọc lừa dưới họng súng lạnh lùng của quân xâm lược Tàu hay quân của thái thú Tàu gốc Việt, như tổng thống Putin của Nga đã chiếm bán đảo Crimea của quốc gia Ukraina, biết rằng đây là một mưu mô xảo trá, nhưng quân xâm lược này muốn việc léo lắt xấu xa ấy là việc đã rồi, như người Việt mình có câu: “Gạo đã nấu thành cơm” thì còn làm gì được nữa?!. Cựu tổng thống Ukraina là Viktor Yanukovych nhục nhã quy lụy ngoại xâm đã lủi thủi theo Nga, do đấy mà bán đảo Crimea của Ukraina mới bị Nga chiếm; bây giờ Nga khinh khi và xem nhẹ Yanukovych; con bài Yanukovych nếu Putin còn dùng cũng chỉ để làm bù nhìn để tiến chiếm thêm lãnh thổ của Ukraina mà thôi! Yanukovych có hối hận phát bệnh mà chết như Lê Chiêu Thống, cũng không chuộc hết tội lỗi với nhân dân và tổ quốc của mình?!.  

V- Thử nghĩ trong khi và sau khi chế độ CSVN sụp đổ thì chúng ta nên làm gì: 
Càng ngày càng lộ rõ chế độ CSVN từ thành phần lãnh đạo đến cán bộ các cấp đều tham lam, nhân viên ra nước ngoài ăn cắp khắp nơi, đã/đang làm nhục quốc thể!. Trước đây, ngày 18-1-2013, tôi có viết: “Chế độ Việt cộng sụp đổ sớm hơn dự kiến”. Thì nay, thấy rõ hơn chế độ CSVN không thể tồn tại lâu được nữa. Vậy thì, trong khi và sau khi chế độ CSVN sụp đổ, thử nghĩ chúng ta sẽ ứng xử như thế nào?: 
- Người Hoa Kiều tại VN: Người Hoa Kiều, không nên làm hại họ mà phải lắng nghe lời dặn dò của nhà chính trị lỗi lạc Nguyễn Trãi là tiền nhân chúng ta: “Đem đại nghĩa thắng hung tàn. Lấy trí nhân thay cường bạo”. Vì sao, vì nếu làm hại người Hoa Kiều là làm mất đi tinh thần khoan dung của Lạc Việt và tạo điều kiện cho quân Tàu lấy cớ cử binh đến VN bảo vệ Hoa Kiều để xâm lược nước ta. 
- Về Quốc phòng: Trong lúc tình thế rối ren là lúc các nước láng giềng hay ngoại bang sẽ xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải của ta. Như vào năm 1407, quân Minh xâm lược nước ta, Chiêm Thành lợi dụng  nước ta đang nguy ngập, thì đem quân đánh Hoá Châu, quân Minh cũng đang tiến vào Hoá Châu; Đặng Tất là thân phụ Đặng Dung mà có lẽ không ai quên được câu thơ của chí sĩ Đặng Dung: “Nợ nước chưa xong đầu đã bạc; Trăng soi mài kiếm biết bao lần!”; Đặng Tất bị ở giữa hai cánh quân ngoại xâm, nên tạm hàng quân Minh để chống quân Chiêm, Trương Phụ để Đặng Tất giữ chức Đại tri Hoá Châu như cũ; tạm yên phía bắc, Đặng Tất dồn sức chống quân Chiêm, quân Chiêm bị bại phải rút về. 
Vì vậy, chúng ta phải có một lực lượng anh ninh trên toàn quốc để bảo đảm an ninh cho quốc gia và giữ gìn biên cương lãnh thổ. Còn cần có lực lượng an ninh để ổn định tình trạng rối ren buổi ban đầu, vì có thể các đảng phái hoặc các cá nhân sẽ trả thù tàn bạo, như việc “Thảm sát hãi hùng” tại Phú Yên, liền sau khi Việt cộng chiếm Phú Yên vào đầu tháng Tư năm 1975, Việt cộng đã sát hại 125 người vì thù hận! Mà hiện nay các chú em Công an hay cán bộ hạ tầng của chế độ CSVN vẫn là người cùng giống nòi, chỉ trừ một vài tên quá hung hăn và tàn bạo?. 
- Về Ngoại giao: Đối với các nước láng giềng nói riêng và các nước trên thế giới nói chung, trong lúc đất nước đang khó khăn vì chộn rộn là một thách thức lớn về Ngoại giao, đất nước đang khó khăn thì vấn đề ngoại giao rất cần thiết, phải cố gắng hơn phải giành cho được sự hỗ trợ của các quốc gia thiếu thiện cảm với nước Tàu. Như nước Nhật vì Nhật đang căng thẳng với Tàu về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông; nước Ấn Độ, vì Ấn Độ có tranh chấp biên giới với Tàu; nước Mỹ, vì Mỹ và Tàu không hài lòng về quyền lợi của hai siêu cường nhất nhì trên thế giới; các nước ở châu Á đang có tranh chấp về biển Đông với nước Tàu v. v...
- Về Văn hóa: Học hành là điều quan trọng, phải cấp bách biên soạn các sách giáo khoa thích nghi với sự tiến bộ của khoa học, nhất là môn Việt sử đã bị Việt cộng cho giảng dạy sai lạc là bắt học sinh học về chủ nghĩa Marx-Lenin của Cộng sản độc địa và lỗi thời, vứt vào sọt rác văn thơ mất gốc của Hồ Chí Minh hay thơ của văn nô Tố Hữu.... Và còn nhiều vấn đề cần phải thực thi sau khi chế độ CSVN bị lật đổ, như: Xã hội, kinh tế v.v... Đây chỉ là một vài thiển nghĩ của cá nhân, việc quốc gia là việc lớn lao phải nhờ những vị tri thức lỗi lạc, các nhà chính trị sâu sắc bàn bạc kỹ lưỡng để tránh lúng túng trong khi và sau khi chính quyền CSVN sụp đổ?!. 
Để kết luận cho bài này, người viết xin thay vào bằng bốn câu thơ “NỖI NIỀM QUỐC NẠN”: 
NỖI ngại tang thương, khắp núi sông
NIỀM tin nòi giống, thủy chung lòng
QUỐC gia củng cố, phòng quân Hán
NẠN mất nhân quyền, đau đớn trông!
Nguyễn Lộc Yên

Tuesday, March 10, 2015

Tai Vạ Không Tránh Được

Chồng tôi, anh Erik Landemalm gắt gỏng nói với tôi: “Anh không thích cái việc đó.”. Tôi trả lời anh: “Em cũng đâu có muốn, nhưng em không còn chọn lựa nào khác.”. Cả anh Erik lẫn tôi đều nghĩ rằng đi đến tỉnh Galkayo, Somalia vào lúc này là điều không nên làm. Đây là một thị trấn nhỏ chỉ cách khu vực Green Line nguy hiểm một đoạn đường ngắn. Green Line là vùng ngăn cách giữa một bên là lãnh thổ do chính phủ kiểm soát, và bên kia là khu vực bị các nhóm quân khủng bố Hồi Giáo hung dữ kiểm soát. Nhưng tôi đang làm nhân viên cứu trợ cho một tổ chức phi chính phủ (NGO), và tổ chức này muốn gửi tôi đến để lập một văn phòng ở đó.
 
Tôi bắt đầu cuộc đời đi làm thiện nguyện trong vùng Phi châu từ năm 2006, với tư cách là cô giáo dạy học ở Kenya. Tại đây tôi gặp anh Erik. Anh là người Thụy Điển đến Phi châu với mục đích thám hiểm, và du lịch.  Chúng tôi thành hôn năm 2009, và dọn về sống ở tỉnh Hargelsa, Somalia. Tôi làm việc cho một tổ chức phi chính phủ của nước Đan Mạch. Tôi có nhiệm vụ dạy cho người dân ở đây cách né tránh bãi mìn, những trái mìn chưa nổ còn chôn trong lòng đất. Đây là một tai hoạ làm cho nhiều người bị cụt chân.
 
Nhưng đi làm việc từ thiện không có nghĩa là chúng tôi được che chở, bảo vệ, thoát khỏi những tình huống bạo động, và giết chóc. Chiến tranh giữa các bộ lạc đang hoành hành khắp miền Nam nước Somalia. Gần đây nhất, một chiếc xe chở hành khách trên tuyến đường chúng tôi thường hay đi, bị giật mìn nổ tung. Chúng tôi cũng rất sợ nạn cướp bóc xảy ra cho chúng tôi. Người Da Trắng Tây phương thường là những mục tiêu để bọn ăn cướp giật đi một ít tiền nóng. Nhưng chúng tôi hết sức thận trọng trong việc đi lại, chỉ đi khi nào có việc cần thiết, và được bảo vệ an ninh cẩn thận.
 
Anh Erik nói với tôi: “Thôi em cứ đi đi. Làm cho xong việc thật nhanh rồi về lại đây.”. Anh dang hai tay ra ôm lấy tôi thật chặt, và quay người tôi một vòng. Tôi vẫn thường đi đến những vùng nguy hiểm, nhưng lần này, anh tỏ ra đặc biệt lo ngại, vì hình như tôi đang có thai. Chúng tôi hy vọng sẽ có đưá con đầu lòng. 
 
NGÀY 24 THÁNG 10 NĂM 2011,  tôi đáp chuyến máy bay của Liên Hiệp Quốc đi đến tỉnh Galkayo. Ở đây tôi sẽ gặp một đồng nghiệp của tôi, anh Poul Thisted, người Đan Mạch và một vài nhân viên phụ trách an ninh. Chúng tôi nghỉ đêm tại nhà khách của tổ chức Phi Chính Phủ, nằm ở phía bắc khu vực Green Line. Tôi nhận được lời nhắn của anh Erik: “Anh yêu em. Ráng giữ mình nghe em.”.
 
Sáng hôm sau, anh Poul và tôi cùng tham dự khoá huấn luyện tại văn phòng của t ổchức. Sau đó, tôi gửi một text message cho Erik: “Em đang đau bụng vì bị hành kinh. Có lẽ mình đoán sai về vụ em có thai. Tôi để lần sau, ráng cố gắng làm lại.”.
 
Trước khi Erik kịp trả lời thì xe của đến đón chúng tôi để đưa chúng tôi trở lại nhà khách. Ông Abdirizak, quản lý phụ trách an ninh leo lên ngồi phía sau chiếc Land Cruiser, trong lúc anh Poul leo lên ngồi phía trước, cạnh tài xế. Tôi nhận ra anh tài xế này là người mới. Lẽ thường tôi phải hỏi vì sao lại đổi tài xế. Nhưng anh Poul không tỏ ý gì quan ngại cả. Vì thế tôi cũng im lặng, không lên tiếng hỏi.
 
Mười phút sau, giống hệt như khi nghe trọng tài thổi kèn tu huýt bắt đầu trận đá bóng, cuộc tấn công khởi sự. Một chiếc xe lớn gầm thét tiến về phía trước để chặn đầu xe của chúng tôi. Xe chúng tôi phải thắng gấp để ngừng lại, khiến cho bùn văng tung toé lên mặt kính xe. Một đám người Somali ôm súng AK-47 vây quanh chúng tôi, họ gõ báng súng vào cửa xe, và la hét om xòm.
 
Hai tên giựt cửa xe mở tung ra, và nhảy vào trong xe. Một tên sau này tôi biết tên của nó là Ali, nắm lấy ông Abdirazak, lôi ông ra ngoài. Mặt của Ali mang những nét ghê rợn, vừa xấu xí vì đầy mụn, vừa dữ tợn vì đôi mắt đỏ ngầu, chứng tỏ hắn nhai rất nhiều lá “khat”, một loại lá gây kích thích, giống như ma túy.
 
Ali chĩa súng vào đầu tôi. Tài xế lái xe, không hiểu hắn có làm việc cho bọn khủng bố Somali hay không, vội vàng đóng xập cửa xe lại, và bỏ chạy mất. Chúng tôi bị nhốt cứng trong xe. Ali và đồng bọn, hươi súng lên trước mặt chúng tôi, rồi hắn hét bằng tiếng Anh: “Mobile!”. Nó muốn hỏi điện thoại để ở đâu.
 
Sau khi lấy điện thoại của chúng tôi, Ali  leo lên phía trước ngồi, và bảo anh Poul ngồi ở băng ghế sau. Tôi nhìn chòng chọc vào anh Poul và hỏi nhỏ anh: “Chuyện gì xảy ra vậy?”. Anh nói: “Chúng mình bị bắt cóc rồi.”.
Mấy tên trên xe vội quát vào mặt anh Poul, bảo anh câm miệng lại, và chiếc xe phóng đi vào bóng tối, cánh cửa xe rung  mạnh vì gặp phải đoạn đường gồ ghề. 
 
“TIỀN ĐÂU!”  Ali hét to lên, anh Poul nói không có tiền. May sao, bọn chúng không lục soát người chúng tôi. Tôi nhớ lại những lời dặn của huấn luyện viên trong khoá học vừa rồi. Họ dạy chúng tôi phải làm gì khi bị bắt làm con tin. Ông ta dặn chúng tôi phải tuyệt đối giữ bình tĩnh, đừng biểu lộ sự tức giận. Chọc giận bọn giặc trong lúc chúng đang hung hăng, hứng chí có thể khiến chúng giết mình một cách oan uổng.  Chưa chắc chúng dự tính sẽ giết mình. Huấn luyện viên dặn chúng tôi phải nhớ thuộc lòng số điện thoại của người thân để mình có thể liên lạc được. Đó là “bằng chứng của sự sống” khi người nhà nhận đuợc điện thoại của mình. Cách duy nhất để giúp bạn sống sót trong trường hợp bị bắt cóc là phải có số điện thoại để liên lạc khi kẻ bắt cóc đòi tiền chuộc.Tôi không bao giờ quên được số điện thoại của chồng tôi, anh Erik.
 
Cho đến lúc này, chúng tôi chưa nhận được tín hiệu gì về ý đồ của bọn bắt cóc. Chúng tôi không biết họ là ai, thuộc phe nào, và bọn chúng sẽ đưa chúng tôi đi đâu. Tôi và anh Poul chỉ còn biết trao đổi với nhau những tia nhìn sợ hãi, lo âu.
 
Bọn bắt cóc chúng tôi đeo vũ khí đầy trên người, những băng đạn dài được chúng khoác lên vai trông thật đáng sợ. Mỗi khi chúng thay xe, hay đổi tài xế, đạn trên người chúng nhảy tưng lên trông phát sợ. Chúng tiếp tục lái xe đi mãi trong bóng tôi, đi hoài. Tôi ngủ gà ngủ gật vì chán nản, chẳng biết làm gì. Bỗng dưng, xe ngưng lại, và Ali ra lệnh cho chúng tôi phải bước ra khỏi xe.
 
Hắn hét lên: “Đi ra” và tay hắn chỉ vào con đường mòn trước mặt.
 
Nói xong, nó dậm mạnh chân bước đi. Nó không đi theo chúng tôi. Một nhóm người khác tiếp tục thay thế Ali, và ra lệnh cho chúng tôi đi theo. Tôi chịu không nổi, tôi nhìn thẳng vào mặt một tên, và hỏi: “Tại sao đi hoài vậy.”.
 
Bụng tôi quặn đau. Tôi từ chối không đi nữa, trong lúc chúng gào thét bắt tôi đi tiếp. Đưá nào cũng có đôi mắt sưng vù, và đỏ mọng vì nhai nhiều lá “khat”.
 
Anh Poul nhẹ nhàng nắm tay tôi, kéo tôi đi, anh nói nhỏ với tôi: “Jessica, Không sao đâu. Mình phải làm theo lệnh của chúng thôi.”.
 
Tôi thì thầm nói với anh: “Không! Cùng lắm thì chúng nó giết mình.”
 
Anh năn nỉ tôi: “Jessica, trừ phi mình hợp tác với chúng, nếu không chúng sẽ giết mình.”.
 
Tôi đảo mắt ngó quanh, nhìn lũ người đang uy hiếp chúng tôi. Tôi cảm thấy tuyệt vọng, và không còn gì gọ là an toàn nữa. Khi chúng tôi phải cúi đầu đi theo bọn người bắt chúng tôi. Tôi bật miệng khóc và nói với anh Poul: “Tôi còn trẻ quá, sao họ nỡ giết tôi.”. Anh nhìn tôi trân trân, không nói gì, và tiếp tục bước đi.
 
Bọn chúng dẫn chúng tôi đi qua rất nhiều bụi cây, sâu tuốt vào bên trong. Trời ban đêm bắt đầu trở lạnh, tôi cảm thấy rùng mình. Anh Poul đi bên cạnh tôi, nhưng chúng tôi bị cấm nói chuyện. Đôi xăng đan tôi mang trên bàn chân trở nên cứng ngắc vì đạp phải nhiều bụi gai, và đất sình. 
 
Tôi không thể nín lặng được nữa, tôi khóc tức tưởi, rấm rứt, không thành tiếng. Cuối cùng chúng tôi cũng đi đến được điạ điểm phải tới. Thế là xong, đến nơi rồi.
 
Bọn bắt cóc ra lệnh chúng tôi qùi gối xuống, xây lưng lại phía chúng.
 
Tôi lâm râm cầu nguyện, nghĩ rằng chúng sẽ bắn mình chết. Nhưng không, chúng ra lệnh cho chúng tôi: “Ngủ đi.”
 
Hai chữ “ngủ đi” nghe sung sướng làm sao. Trong giây phút chúng tôi quên đi sự nguy hiểm, và muốn cảm ơn bọn bắt cóc đã cho chúng tôi ngủ. Đây là một dịp nghỉ ngơi để lấy lại sức. Bọn chúng đã ban phước lành cho chúng tôi.
 
SÁNG HÔM SAU, KHI MẶT TRỜI VỪA LÓ DẠNG, tôi mới biết mình còn sống. Tôi cảm thấy tươi tỉnh, vui trong lòng một chút, thay vì uể oài, biếng nhác vì thiếu nghỉ ngơi. Bọn bắt cóc dẫn chúng tôi đến một chòi lá, xung quanh có nhiều cây keo. Ngay ỡ giữa là một ụ đất khá lớn do mối vun lên thành  gò đất. Anh Poul ra hiệu cho tôi nên tìm cách nhớ kỹ cảnh vật xung quanh. Chúng tôi ra dấu, nói chuyện theo lối người câm, xin phép chúng cho liên lạc với tổ chức Phi Chính Phủ (NGO) của chúng tôi. Lời đề nghị của bị từ chối, nhưng rồi có một tên đứng ngoài sau lên tiếng nói rằng phải chờ lệnh của “Ngài Chủ Tịch”. Chẳng biết tên đó là ai, nhưng khi thấy chúng gọi y là Ngài Chủ Tịch, tức là theo hệ thống tổ chức kinh doanh, không phải theo lối “giáo sĩ” là chúng tôi mừng.
 
Tôi xin phép được đi vệ sinh, và được chúng miễn cưỡng cho đi, với những lời lầm bầm chửi ruả. Tôi lựa một bụi cây ở thật xa, hẻo lánh, dõi mắt quan sát xem có đứa nào đi theo hay không. Tôi nhìn thật kỹ, và thấy có một con đường đi. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ chạy trốn? Nhưng chạy đi đâu bây giờ? Tôi đang ở một nơi hoang vắng, không giấy tờ tùy thân, và không có tiền trong túi. Bất cứ mưu toan chạy trốn nào rồi cũng sẽ thất bại, và bị bắt lại.
 
Sau khi đi vệ sinh, quanh trở lại lều tạm trú, một gã tự giới thiệu mình là Abdi. Hắn nói được một chút tiếng Anh, và bảo đảm với tôi rằng chúng sẽ không giết tôi. Chúng muốn tiền chuộc, một số tiền thật lớn. Sau vài lần nhắm mắt ngủ được một chút, và nhiều lần xin đi vệ sinh không bị quấy rầy, tôi cảm thấy dễ chịu phần nào. Điều Abdi hứa không giết chúng tôi có lẽ là đúng, ít ra là vào lúc này.
 
Chúng tôi tiếp tục ở trong căn nhà tranh dưới bóng cây keo. Buổi tối chúng tôi phải nằm ngủ trên chiếc chiếu ngoài sân cỏ.
 
Được ít lâu, chúng tôi lại di chuyển. Chúng tôi đến chỗ mới, một trạm dừng chân để nghỉ lại vài ngày. Trạm nghỉ này là một lều tranh khá lớn, bao quanh một cây cột thật cao. Abdi đóng vai trò đội trưởng. Hắn giữ nhiệm vụ đôn đốc đàn em  hoàn thành công việc được giao phó. Abdi thích nói chuyện, nói nhiều lắm, nhất là sau khi nhai lá “khat”. Nhưng hắn có cái tật cọc cằn, và thay đổi tánh tình bất chợt. Có lúc hắn say sưa thảo luận về triết lý, rồi ngay sau đó, hắn trở mặt la hét, chửi rủa thô tục trong điện thoại khi cần ra lệnh, hay khi đòi thuốc lá, và lá “khat” để nhai.
 
Tôi khát nước, có lẽ trong miệng tôi có đầy đất cát. Mỗi ngày chúng tôi chỉ được một chai nước nhỏ. Anh Poul đòi cho thêm nước. Đòi mãi, anh bị một tên bảo vệ chửi rủa thậm tệ, bắt anh im miệng lại. Một lúc sau, tên lính bảo vệ mang cây súng trường đến gần anh. Nó kéo cơ bẩm, bóp cò súng. May thay súng không có đạn.
VÀI NGÀY SAU, MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG LỚN TUỔI TÊN LÀ  Jabreel đến đây. Hắn nói tiếng Anh, và tự giới thiệu mình là “thông dịch viên trung lập” từ thủ đô Mogadishu đến đây. Hắn nói với chúng tôi: “Mấy thằng này điên. Chúng nó đòi tiền chuộc $45 triệu mới thả hai người ra.”
 
Tôi trả lời hắn: “Không có ai chịu trả $45 triệu để chuộc hai nhân viên cứu trợ.”.
 
Hắn phân trần: “Tôi đến đây để giúp giải quyết vấn đề. Tôi nói với chúng là tối đa chúng chỉ có thể lấy được $900,000 mà thôi.”.
 
Khi trời xập tối, cái tên gọi là “Ngài Chủ Tịch” đến nơi. Trông hắn vào khoảng ngoài 40 tuổi, với một ít râu trên mặt. Hắn bàn luận với Jabreel vài câu. Sau đó tên này ra lệnh cho chúng tôi: “Gọi điện thoại.”.
 
Cuối cùng thì chúng tôi cũng liên lạc được với người nhà qua điện thoại, gọi là “bằng chứng con tin còn sống.”. Tôi theo dõi Jabreel bấm số điện thoại, và thấy mã số quốc gia gọi là Kenya. Tôi nghe một người xưng danh là Mohammed. Jabreel đưa điện thoại cho tôi trả lời, và người đó nói rằng ông ta là trợ lý cố vấn an ninh. Ông hỏi tôi vài câu để kiểm tra an ninh, chẳng hạn như con chó đầu tiên của tôi tên là gì. Chỉ có bấy nhiêu thôi. Sau đó, Jabreel giật lấy chiếc điện thoại trong tay tôi, và dành nói chuyện với Mohammed, y muốn biết chắc là Mohammed đang làm việc cho cơ quan Phi Chính Phủ.
 
Tôi rất mừng được liên lạc với thân nhân để cho họ biết tôi còn sống. Nhưng tôi ngạc nhiên người nói chuyện với tôi không phải là anh Erik. Sau lần nói chuyện ngắn ngủi, chúng tôi lại bị luà vào trong trại, rồi dẫn ra ngoài cánh đồng. Đến cuối ngày, khi những tên bảo vệ dơ cao súng lên, bắn thị uy, chúng tôi lại trở về trại, đi ngủ theo lệnh.
 
Qua ngày hôm sau, tên Jabreel nói với chúng tôi rằng bọn chúng đang lo vì có lẽ máy bay trên cao, và vệ tinh đang theo dõi chúng. Tôi nói: “Bọn tao chỉ là nhân viên cứu trợ, không ai dùng máy bay, hay vệ tinh để tìm kiếm làm gì.”.
 
Cứ như vậy, ngày nào cũng như nhau, sáng sớm chúng tôi bị lôi dậy, nằm ngồi lê lết dưới bóng cây keo, đến tối thì ngủ ngoài trời sa mạc. Tôi bị nhiễm trùng đường tiểu. Với kiểu ăn uống chung một cái chén, cái tô, bốc bằng tay, tôi bị đau bụng, tiêu chảy. Luân phiên khi thì đi tiêu chảy, khi thì ói mửa. Tôi đòi bọn chúng phải kiếm bác sĩ cho tôi. Tôi khóc vì đau bụng, và mệt lả. Bọn chúng bực mình, rất ghét khi nghe tôi khóc. Chúng hét lớn bảo tôi im miệng lại. cuối cùng, chúng cũng tìm cho tôi một bác sĩ. Người bác sĩ này chỉ khám sơ qua, và ném cho tôi vài viên thuốc, sau đó, hắn đi nhai lá “khat” với tên Jabreel. 
 
Một buổi sáng, tên Abdi từ bên ngoài vào trại. Hắn la hét om xòm trong điện thoại. Hắn chọn một cây gậy lớn, và đánh anh Poul. Nó bắt anh nằm xuống đất, tiếp tục đánh.
 
Tôi nghe tên Abdi vừa vung cây gậy đánh anh vừa hỏi: “Số tiền lớn đâu? Sao không có?”.
 
Anh Poul phân trần: “Đó không phải là lỗi của tôi.”.
 
Nó vung gậy quất vào người anh Poul trong lúc bắt anh nằm dang chân dang tay  ở dưới đất. Anh Poul hét lớn đòi nó ngưng đánh. Trong lúc đó, tôi cũng nức nở khóc vì bực tức. Tên Abdi trông thấy nét khổ sở tên mặt tôi, nhưng như thường lệ, sự đau khổ đó không làm cho chúng mủi lòng, thương hại. Thay vào đó, nó dậm chân và bước đến phía tôi, tay vung cây gậy lên, và nói: “Còn mày nữa. Đứng dậy. Đi Đi.”.
 
Tôi đứng dậy bước đi. Thằng Abdi bước theo và hét lớn: “Tiền chuộc mạng cho chúng mày đâu?”.
 
Tôi ráng trả lời trong không khí im lặng, căng thẳng: “Tao không biết. Poul cũng không biết. Chúng mày có đánh chết, bọn tao cũng không biết.”.
 
Nó chặn tôi lại, và ấn tôi ngồi xuống. Kế đến, nó ngồi xổm, kê sát mặt tôi, hỏi: “Tiền chuộc đâu?”. Nó nhìn thẳng vào mắt tôi, và viết con số 18 trên mặt đất bằng ngón tay. Nó giải thích: “Trong vòng bẩy ngày, phải đưa bọn tao $18 triệu nếu không chúng mày sẽ bị chặt đầu.”.
 
Một hôm, chúng đem hai đứa tôi ra bãi sa mạc để thu hình video. Hai thằng lính gác ôm súng trường đứng hai bên. Chúng buộc anh Poul phải nói trong video là cả hai chúng tôi đều mạnh khoẻ, bình an. Và anh phải lên tiếng yêu cầu đừng tấn công chúng bằng binh lính. Sau đó, anh Poul năn nỉ gia đình nên thu xếp tiền bạc để chuộc cho anh. Mặc dù anh biết gia đình anh không có đủ số tiền đó.
 
Cũng vào khoảng thời gian này, tên Jabreel liên lạc với chồng tôi. Nó đưa chiếc điện thoại cho tôi để tôi nói chuyện. Tôi nói: “Đây là Jessica.” Vừa nói tôi vừa thở mạnh vì hồi hộp. 
 
Đầu dây bên kia, tiếng anh Erik nói: “Đây là Erik, Jess Em có khoẻ không?” Anh cố gắng nói hết ý của anh trong một thời gian ngắn.
 
Tôi trả lời: “Em cũng OK.” Tôi năn nỉ anh nên chọn Mohammed làm ngưoời trung gian thương lượng cho hai gia đình, và nói với tên Abdi rằng họ đang cố gắng tìm cách thu xếp số tiền chuộc. Sau đó, tôi nói với tên Jabreel đi tìm Abdi cho tôi.
 
Tôi nói với anh Erik còn ở trên dây điện thoại: “Tên thủ lãnh của chúng sắp đến nói chuyện với anh để anh nghe về điều kiện của bọn chúng. Nhưng trước khi nó đến, em muốn nhắn với anh là em yêu anh nhiều lắm.”.
Tôi nghe tiếng anh nghẹn ngào nói: “Anh cũng yêu em nhiều.”
 
Tôi dặn anh: “Em sẽ cố gắng vượt qua khó khăn này.”
 
Anh vắn tắt nói với tôi: “Tốt lắm, Jess.”. Hình như anh đang ở trong căn phòng có khá đông người.
 
Abdi đi vào, cầm điện thoại nói chuyện, mắt nó sưng mọng vì nhai nhiều lá “khat”. Trong khi đó, tên Jabreel nói với anh Erik: “Tôi không phải là người trong tổ chức, tôi chỉ làm theo lệnh của họ.”.
 
Sau đó, tên Abdi nói chuyện với anh Erik. Anh hứa với nó rằng gia đình sẽ làm đúng theo kết quả thương thuyết của Mohammed. Anh nói lớn vào trong máy điện thoại: “Jessica, anh cầu nguyện cho em được an toàn, và anh sẽ làm đủ mọi cách để đem em và anh Poul trở về.”.
 
Tên Jabreel cắt điện thoại. Thế là xong.
 
SAU LẦN NÓI CHUYỆN BẰNG ĐIỆN THOẠI,  bọn bắt cóc tách rời anh Poul xa khỏi tôi. Từ đó, tên Jabreel bắt đầu dở trò xàm sỡ, đòi sờ mó, tấn công tình dục đối với tôi. Tôi nói với nó: “Đừng làm như vậy Jabreel. Tao có chồng và mày cũng đã có vợ.”. Nhưng cũng từ lúc đó, tôi phải tìm cách xa lánh tên này, kẻ duy nhất giúp tôi phiên dịch sang tiếng  Anh khi cần nói chuyện. Nó biết tôi muốn né tránh, nhưng càng ngày nó càng thèm muốn lại gần tôi. Một hôm khi thức dậy, tôi đã thấy nó nằm ngay bên cạnh. Tay của nó đang mò mẫm trong tấm mền tôi đắp, rờ vào chân tôi. Tôi đẩy tay nó ra, và xoay mình trở ngược lại.
 
Tôi mơ màng mình được về nhà với anh Erik. Đầu óc tôi miên man nghĩ đến căn phòng của chúng tôi, đến anh Erik, anh đang mong tôi trở về. Giây phút mơ màng đó chợt đến, rồi chợt đi. Nhưng thực tế trước mắt là tôi không có ai giúp đỡ cả.
 
HAI TUẦN SAU, CHÚNG ĐEM ANH POUL TRỞ VỀ TRẠI. Không một lời giải thích. Anh ở đó một ngày, tôi vội vàng hỏi thăm anh chuyện gì đã xảy ra, nhưng rất khó cho chúng tôi nói chuyện trước mặt những tên bắt cóc chúng tôi.
 
Một hôm chúng tôi nghe có tiếng ù ù từ xa, mãi tận trên không trung rất cao. Chúng tôi không thấy gì cả, nhưng những tên bắt cóc cứ nhất định bắt chúng tôi phải trốn dưới tàng cây.
 
Một buổi tối, tôi mở mắt nhìn vào bóng đêm. Trời ban đêm tối đen như mực, không trăng sao, và có bóng hỏa mù che khuất những tia sáng le lói của ánh sao đêm. Lúc đó vào khoảng 2 giờ sáng. Đúng giờ này tôi thường đi ra bụi cây để đi vệ sinh. Vì bị nhiễm trùng đường tiểu, nên ban đêm tôi thường phải thức dậy để đi tiểu. Tôi đứng dậy, và nói khẽ: “Toilet.”. Tôi phải xin phép mới được bước ra khỏi chiếu của mình.
 
Không một ai trả lời tôi. Tôi đứng lặng yên, nín thở, lắng nghe. Tôi nghe tên lính gác đang ngủ, chúng ngáy rất lớn. Tôi nói lớn hơn một chút: “Ê tụi bay! Nghe tao nói gì không? Tao muốn đi tiểu.”.
 
Không một tiếng trả lời. Có lẽ chúng không nghe, hay chẳng thèm để ý.
 
Tôi đi một mình ra bụi cây gần nhất. Lúc đó chỉ có một mình tôi, thật bình yên. Bóng đêm như đang che chở cho tôi. Tôi chợt nẩy ra ý nghĩ chạy trốn. Tôi thấy sức khoẻ đã khá hơn, nhưng thỉnh thoảng vẫn đau quặn ở dưới bụng. Chạy trốn ư? Phải rồi, nên chạy trốn đi mới được. 
 
Tôi quanh trở lại chiếc chiếu, đặt mình nhẹ nhàng nằm xuống, cong người như con tôm.
 
Tiếng động nghe như tiếng cành cây gẫy, làm tôi thức giấc. Không chừng đó là tiếng kêu của thú vật, hay là một nhánh cây khô bị gió thổi làm gãy xuống. Nhưng rồi sao lạ quá, hết nhánh cây này gẫy lại đến nhánh cây khác. Chuyện gì đang xảy ra ở ngoài kia?Tôi đang mơ ngủ, hay là tỉnh? Cứ mỗi lần tôi tỉnh trí là lại nghe tiếng nhánh cây gẫy. Rồi tôi nghe như tiếng chim chút chit, nhón mình ra khỏi tổ. Ngay sau đó, tôi nghe tiếng động mạnh ở cạnh chiếu tôi nằm.
 
Bọn lính Somali lập tức nhảy nhỏm dậy, và chúng kéo cơ bẩm súng, lên đạn sẵn sàng. Một khoảng im lặng kéo dài khá lâu, sau đó thì tiếng súng nổi lên dòn dã. Cuộc đấu súng quyết liệt xảy ra ở tứ phía. Chắc là tôi đã la hét lớn lắm, nhưng tiếng hét của tôi bị tiếng súng nổ lấn át. Hay là một bộ tộc khác đến đây đánh nhau với bọn này để dành giật chúng tôi, lấy tiền chuộc mạng? Tôi lâm râm cầu nguyện Thượng Đế, và nhắn gửi thương yêu của tôi đến anh Erik.
 
Tôi nghe tiếng bọn khủng bố Somali la hét ra lệnh cho nhau, rồi tôi nghe tiếng đạn xé tan không gian im lặng, và tiếng người hực lên trước khi chết. Tôi nghe có người kêu: “Trời ơi.” Và y thở hắt ra trước khi chết.
Một bàn tay mạnh mẽ nắm lấy tấm mền của tôi. Tôi tìm cách cưỡng lại. Nhưng rồi một giọng đàn ông gọi tên tôi: “Jessica.”
 
Tôi giật mình tỉnh rụi, như có người vừa tát vào mặt tôi. Một người nói giọng Mỹ?
 
Bóng đêm đen tối che dấu những khuôn mặt người lạ. Trông họ như những bóng ma, với vũ khí cực mạnh. Tôi không tin những người này đến đây để cứu tôi. Vì thế tôi dùng hết sức bình sinh để kháng cự lại. Dù biết rằng mình có thể bị giết, nhưng tôi bất cần, tôi chống lại theo bản năng. Sau đó tôi nghe họ nói:
 
“Jessica! Đây là quân đội Mỹ. Cô được gỉải cứu rồi. Chúng tôi sẽ đem cô về nhà.”.
 
Ngày 25 tháng Giêng năm 2012, bằng mệnh lệnh của Tổng thống Barack Obama, 24 chiến sĩ Biệt Kích US Navy SEAL được biệt phái thực hiện chuyến nhảy dù đánh đột kích vào nước Somalia, giết chết một số tên bắt cóc, và giải cứu được cô Jessica Buchanan và anh Poul Thisted bằng máy bay trực thăng.
 
Nguyễn Minh Tâm