Tuesday, February 17, 2015

Chốn Vắng (Kỳ 161 - 168)‏

Kỳ 161
Trái tim anh dường như ngừng đập. Óc não anh cũng gần như tê liệt trong cơn choáng váng. Khoảnh khắc đó qua đi, anh mới có thể tiếp tục nói với chính mình:
... Phải, đó chính là trò chơi đổi chỗ. Ðiều đấy thật giản đơn mà sao giờ ta mới nghĩ ra?... Nàng Thoọng khốn khổ không bắn nổi vầng trăng quyến rũ kia... Nhưng tôi, tôi sẽ bắn rụng vầng trăng của em, để không còn gì lôi cuốn em ra khỏi tôi, và chúng ta sẽ sống cùng nhau, cùng nhau mãi mãi...
Nỗi sung sướng khiến Bôn lặng đi. Lần này anh không hét lên mà cúi xuống hà hơi vào lòng bàn tay, thì thầm:
- Bôn ơi là Bôn, sao mà mày ngu dại, sao mà mày chậm hiểu thế? Ðáng lẽ mày phải tính đến chuyện này từ lâu, từ lâu...
Trí óc anh trở nên tỉnh táo, sắc bén. Tức khắc, nó phác ra kế hoạch hành động một cách tường tận, tỉ mỉ:
... Mai ta đến nhà Xá chột. May sao cậu ta vừa về thăm vợ đẻ. Ta hỏi mượn khẩu súng săn, nói rằng phường săn bên xã thiếu tay súng và vì trưởng phường có họ xa nên ta phải nể tình giúp họ. Xá đang sướng rơn vì cửa hàng mới, vì vợ đẻ con trai nên không thể nghi ngờ. Từ nhà Xá, ta sẽ theo cong đường vòng qua thung lũng Ớt để tránh gặp dân làng. Ta sẽ đón họ ở bìa rừng bên kia Suối Lớn. Ở đó, định hình rất lợi. Vả chăng hắn cao to nhất phường săn một mục tiêu như thế dễ dàng bị hạ. Trước kia, ta bắn cũng không đến nỗi nào. Chẳng là thiện xạ nhưng cũng hơn hẳn gã lái buôn dân thành phố... Ngày mai sẽ là ngày cuối cùng hắn được hưởng cuộc đời may mắn của mình...
Bôn đứng dậy, men theo lối đi đã thuộc trở về làng. Lẹ làng như một con mèo và gian manh như con cáo gã đàn ông đang mưu tính giành giật lại hạnh phúc mỉm cười. Hẳn đó là nụ cười đắc thắng...
Chương 28
Mùa săn Xóm Núi năm nay thật rủi ro.
Ngược lại những gì ông trưởng phường dự đoán, trong cái buổi tối vui vẻ rộn ràng trước ngày xuất quân họ đã hút thuốc ngon, uống trà ngon, ăn bánh mật nóng hổi và tuy chẳng ai nói ra lời nhưng mọi người đều mơ tưởng tới số thú rừng sẽ được cõng về làng. Nhưng thứ cống vật đầu tiên của mùa săn không phải lợn lòi, gấu ngựa, gấu chó, hươu nai, hoẳng, hay khỉ độc... Cống vật đầu tiên lại là người đàn bà chửa, người đó nằm trên chiếc võng đay sợi thưa, thứ võng thường được đem theo phòng ai đó bị lợn lòi húc hoặc bị gấu ngựa tát... Ðám phường săn cởi áo lót vào võng rồi đặt người bị thương lên. Vết thương không nghiêm trọng, chị bị súng cướp cò thổi cụt ngón tay trỏ và ngón giữa, nhưng vì mang thai đến tháng thứ bảy lại chạy một thôi đường dài nên lâm cơn đau sinh nở. Hai gã đàn ông trần trùi trụi khiêng cáng, một đầu là Xá chột, đầu kia là một chàng trai hai mươi mốt tuổi vừa được nhập phường mùa săn trước. Ði bên cáng phía trái là anh chồng thứ nhất, bên phải là anh chồng thứ hai. Một anh tái thâm. Anh kia trắng nhợt. Cả hai đều có cặp mắt lạc tròng. Chủ tịch xã lẫn trưởng phường săn đều nhất trí hủy chuyến săn để đưa Miên trở lại làng đoạn cử người phóng xe máy đi tìm ô-tô đưa xuống bệnh viện thành phố. Ở đó, chắc chắn họ phải băng lại vết thương cho chị rồi mới chuyển sang phòng hộ sinh. Miên nằm trên giường tái nhợt, mồ hôi vã đầy trán nhưng không rên một tiếng. Khi chủ tịch xã tới gần, hỏi:
- Cậu Bôn hay cô nổ súng?
Miên cười:
- Em đó mà... Bỗng dưng em táy máy... Không ngờ chạm phải...
Nụ cười nhợt nhạt nhưng cặp mắt đen láy của chị nhìn thẳng vào người đối diện, sáng một ánh sáng dị thường.
Chủ tịch xã dường như muốn hỏi thêm điều gì đó nhưng lại thôi. Ông trưởng phường săn bảo:
- Thôi, thôi... Ðể cho cô ấy nghỉ... Vết thương mất nhiều máu lắm.
Không ai nói gì thêm. Họ phải chờ xe.
Ngần ấy người đàn ông ngồi chen chúc trong một gian nhà gạch nhỏ, ngôi nhà ở bìa làng, địa điểm gần nhất có thể tìm một chiếc giường cho Miên nằm tạm. Chủ nhân còn trẻ là thợ săn mới, được nhập phường một lần với chủ tịch xã và Hoan. Anh ta hì hục đun nước pha trà vì cô vợ đã đưa con về chơi bên ngoại cách Xóm Núi ngót mười cây số. Cả nhà chỉ có bốn chiếc chén nên đám thợ săn phải thay nhau uống. Cái sự đợi chờ khốn khổ đó khiến người ta khó bình tâm. Bởi thế chủ tịch xã, sau khi uống một chén trà nóng bỗng cảm thấy bứt rứt không sao chịu nổi bèn sấn tới trước mặt Bôn:
- Này...
Bôn đang ngồi trên chiếc kệ ngoài hè. Anh ta nghiêng đầu nhìn xuống sân như để đếm gạch hoặc để tìm một cây cỏ mọc trong kẽ nứt.
- Này Bôn.
Người chồng thứ nhất ngước lên đôi mắt trống rỗng, trên gương mặt cũng trống rỗng như vỏ trái bầu khô. Anh ta không nói gì cả.
Chủ tịch gằn giọng:
- Cậu cầm súng hay cô Miên cầm súng?...
Bôn lắc đầu:
- Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn...
Chủ tịch gắt:
- Cậu hay nhỉ?... Tôi hỏi cậu cầm súng hay cô Miên cầm súng?
Bôn lặp lại, khẽ hơn, gần như thì thầm:
- Tôi không bắn... Tôi không bắn Miên...
Và sau đó anh ta cứ lặp đi lặp lại mãi câu nói đó với một giọng khẽ khàng thầm thĩ, tựa giọng tâm tình giữa những cặp tình nhân. Trên gương mặt vô hồn, chẳng còn mảy may chút ánh sáng của ý thức.
Chủ tịch xã thở dài cau có quay vào nhà
- Tôi không bắn ... Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn Miên...
Bôn tiếp tục nói, không còn là nói mà như một kiểu nhai lại của trâu bò:
- Tôi không bắn... Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn...
Những âm thanh phát ra đều đều liên tục, như tiếng phát ra từ cuốn băng ghi âm cũ. Những người thợ sơn im lặng đưa mắt nhìn anh ta. Tiếng Bôn lập đi lặp lại vang trong yên lặng. Dù anh ta nói rất khẽ nhưng tất cả mọi người đều lặng im, kể cả người bị thương nên tiếng nói của Bôn là âm thanh duy nhất khua động không gian.
- Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn...
Cái điệp khúc vô tận đưa đẩy con người, như những con sóng nhỏ vô hình xô dạt họ vào nỗi bức bối. Nỗi bức bối tăng theo thời gian chờ đợi. Cuối cùng, chính ông trưởng phường, bậc trưởng lão của phường săn không chịu nổi đã gầm lên:
- Câm mồm đi... Cậu có câm mồm đi không hả?...

Kỳ 162
Tất thảy mọi người đều giật nẩy vì tiếng hét của ông già. Bôn nhướng cặp mắt thất thần lên nhìn ông và ngậm miệng tức khắc, hệt chiếc máy bị rút điện. Sự im lặng trở lại ngự trị, lần này tiếng vo ve của lũ ong vườn vọng mơ hồ. Chủ nhà xách ấm nước sôi mới từ dưới bếp lên rót vào phích. Sau đó, tiếng suỵt soạt uống trà.
Người chồng thứ hai đã bình tâm tới ngồi bên giường với vợ. Anh tay nắm tay người bị thương, bàn tay trái lành lặn. Tay bên kia đã băng kín. Những đường băng thô dại của Xá chột. Chính Xá là người đầu tiên nhào tới lúc xảy chuyện, chính anh ta giằng khẩu súng khỏi tay Bôn, chính anh ta đỡ Miên và xé cánh tay áo sơ-mi của anh ra băng bó cho chị với nhúm thuốc lá. Chính Xá đã khiêng một đầu võng để đưa chị về làng. Nhưng từ phút đó anh lặng câm như nấm mồ. Giờ anh ngồi bó gối trong góc phòng đưa mắt nhìn Hoan và Miên. Người đàn bà vừa hé mắt nhìn chồng, môi lại nở nụ cười tái nhợt. Rồi chị nhắm mắt. Bàn tay còn lành nắm chặt tay Hoan. Màu hồng đã trở lại trên gương mặt người chồng thứ hai. Và cặp mắt hoảng loạn cũng đã bình thản. Anh ta mấp máy đôi môi nói gì đó với vợ. Chắc chắn chỉ riêng họ nghe được những lời thầm, thầm gần như câm lặng, những lời thuộc về riêng họ mà thôi. Xá chột đập vào lưng người ngồi cạnh xin chén nước. Rồi anh ta cúi xuống mê mải uống trà dường như đó là công việc duy nhất cần thiết.
Sau chót, xe đã đến. Tiếng còi inh ỏi ngoài đường thôn.
Người chồng thứ hai đứng lên, tới bên ông chủ tịch, nói vào tai ông ta với giọng vừa đủ cho ông ta nghe thấy:
- Xin anh bỏ qua cho chuyện này. Vợ tôi muốn thế.
Ðoạn anh quay lại giường, bồng vợ lên, nhẹ nhàng như bồng đứa trẻ lên ba.
- Tôi đi đây... Xin cảm ơn tất cả...
Hoan nói vội vã trong lúc đi qua sân, vừa nói vừa đưa mắt chào mọi người. Tài xế đã mở sẵn cánh cửa chiếc com-măng-ca leo núi, Hoan bế vợ chui vào trong xe, đôi vai vạm vỡ co lại khi luồn qua khuôn cửa giống như vai gấu. Một con gấu dịu dàng, khéo léo. Mọi người đều nhận thấy anh rất cố gắng để khỏi gây va dập, để giữ người đàn bà chửa và bị thương tránh khỏi đau đớn. Trên trái đất khó có người đàn ông thứ hai nào vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng như Hoan. Tất cả những kẻ từng có cuộc sống vợ chồng, kể cả vị trưởng lão đều đứng ngây nhìn anh trong giây phút đó, đều thèm muốn được như anh với nỗi thèm muốn muộn mằn.
Xe đi. Tiếng máy tắt dần.
Ngôi nhà nhỏ trở lại yên tĩnh.
Những người còn ngồi lại không nhúc nhích, giống như bị bùa mê.
Ông trưởng phường rót trà uống.
Ông chủ tịch ngồi nhìn chiếc điếu cầy.
Chủ nhân khoanh tay tựa cửa, nửa như chờ đợi, nửa như đang nghĩ vẩn vơ.
Và rồi, Xá chột chợt như bừng tỉnh. Anh ta tụt từ trên phản xuống đất, bước ra hè. Bôn vẫn ngồi trên cây kệ. Mắt găm xuống mặt sân gạch. Nghe tiếng bước chân Xá chột, anh ta ngẩng mặt lên. Tiếng chân đó rất quen thuộc với Bôn. Không phải quen thuộc mà thân thuộc. Cái tiếng động anh ta thường trông ngóng, chờ đợi vào phút khốn khó nhất đời mình.
Hai người nhìn vào mắt nhau.
Xá chột dang tay tát vào mặt Bôn một cái tát nảy đom đóm. Và khóe môi Xá run giật.
Chương 29
Rồi một cơn mưa bụi là là bay tới. Từ chân trời phía Ðông nó mang theo hơi ẩm lẫn bóng mờ của những cơn giông hiếm hoi sầu muộn mùa Xuân. Giữa các lớp bụi xiên xiên trắng như sữa, len lỏi sương mù của một mùa Ðông xa vắng, một mùa Ðông trong cõi hoang kỉ niệm và trong những hồi ức đã chết cóng dưới tro bụi thời gian.
Ở bệnh viện tỉnh, người đi lại tấp nập. Dân chúng đau ốm liên miên vào dịp này. Lịch âm ghi ngày Kinh trập - ngày sâu nở. Trước phòng khám bệnh người xếp dãy dài. Bóng áo trắng lượn quanh các khu điều dưỡng, lướt dọc các hành lang. Phía sau viện, nhà xác chất đầy, từ đó thì thoảng một cỗ xe tang lăn ra con đường phía sau chở một linh hồn về cõi vĩnh hằng.
Trời này hút thuốc lá thơm thật tuyệt.
Từ sáng tới giờ Hoan đã hút hết già nửa bao Dulhil. Khói thuốc tỏa ra bay khỏi hành lang phòng chờ, nơi anh đứng, và tan lẫn vào mưa bụi. Anh ngửa mặt nhìn theo làn khói màu trắng đục của sương mù kia khiến tâm hồn anh khắc khoải hơn.
Sáng nay người ta đã đưa Miên lên bàn mổ. Bác sĩ quyết định lấy thai ra vì sợ Miên không đủ sức sinh đứa bé một cách bình thường. Hôm qua, sau khi băng lại vết thương cho Miên, họ đã kiểm tra huyết áp và các chỉ số khác. Sức khỏe của chị suy giảm không nhiều nhưng cũng không đảm bảo cho một cuộc sinh nở. Và họ đã thực thi các biện pháp cần thiết để an thai cho tới sáng nay. Miên rất bình tĩnh. Bất kỳ lúc nào có mặt anh chị cũng gắng nở một nụ cười. Nụ cười đó muốn nói:
- Không có chuyện gì đáng ngại, anh yên tâm.
Nhưng Hoan không yên tâm được. Người đàn bà đó là nửa cuộc đời anh, và nếu mất đi nửa ấy, nửa kia sẽ bất toàn.
Anh đã làm tất thảy những gì có thể làm được. Từ bác sĩ trưởng viện, trưởng khoa xuống tới đám y tá phụ mổ và y tá phụ trách giường bệnh, kể cả bà hộ lý già, một mụ đàn bà mặt rỗ thô bỉ thường vòi vĩnh trắng trợn... Tất thảy đều đã nhận được thù lao trước một cách hậu hĩnh... Nhưng anh vẫn không hoàn toàn yên tâm. Bởi sự nghiệm sinh đã dạy anh những nỗ lực của con người nhiều lắm cũng chỉ quyết định một nửa sự thành công. Phân nửa kia thuộc về một lực lượng huyền bí khác. Anh không quen cúng vái, không biết khấn các thần linh, anh chỉ thắp hương trước bàn thờ cha mẹ, cầu mong người đàn ông mảnh khảnh ngày xưa từng che chở anh trong cõi dương trần sẽ tiếp tục chở che anh khi ông đã ở dưới cõi âm. Sau đó, anh không biết làm gì hơn là đốt thuốc. Ðốt thuốc liên tục như mất trí, không còn ngửi thấy mùi thuốc, không cảm thấy hơi lửa nóng trên đầu ngón tay.

Kỳ 163
Trời vẫn mưa. Mưa bay. Những nhành mai trắng nơi khuôn viên nhòa trong bụi nước. Hoan nghĩ tới một lưỡi dao, thứ kim khí bén nhọn sẽ rạch làn da Miên, những thớ thịt đứt rời, máu chảy:
... Em sẽ phải gánh chịu đau đớn một mình, và tôi bất lực không cách nào chia sẻ. Vậy mà em vẫn cười, cười như một đứa bé nhởn nhơ ở ngoài cuộc. Em vẫn khích lệ tôi, gã đàn ông khỏe mạnh cao và nặng gấp đôi em...
Anh tưởng bụi nước bay nhòa mắt. Những khóm mai gần như chìm lấy trong mưa. Chiều qua, Miên bảo:
- Em cụt mất hai ngón tay rồi. Mãi mãi không còn bàn tay lành lặn cũ... Anh còn yêu em không?...
Anh nói:
- Bao giờ em cũng là người đẹp nhất với anh, em là người của anh, người anh yêu mãi mãi.
Chị nhìn anh với đôi mắt rầu rĩ:
- Anh có thể gặp nhiều người đàn bà khác, trẻ hơn và đẹp hơn em.
Hoan lắc đầu:
- Chúng ta đã qua thử thách. Chúng ta đã từng xa nhau và biết rõ những gì xảy ra trong quãng thời gian xa cách đó.
Chị muốn nói gì thêm nữa nhưng người y tá đã tới lấy chiếc cặp nhiệt độ. Câu chuyện dừng lại vì sau đó người ta yêu cầu anh đi ra cho Miên ăn chiều và nghỉ ngơi. Chị cần một giấc ngủ sâu trước ca mổ. Hoan nhớ lại cuộc đối thoại. Anh không hiểu vì sao trước phút hiểm nghèo Miên chẳng hề lo tới sinh mạng chính chị hay của đứa con trai mà chỉ băn khoăn vì hai ngón tay cụt và e sợ tình yêu của anh không còn nữa. Ðiều đó, cũng giống như chị đã xóa tội sát nhân cho Bôn bằng cách nhận lỗi táy mách nghịch súng, một thứ bịa đặt ngốc nghếch đến trẻ con cũng không tin nổi. Vậy mà tất cả đã phải lặng im nghe chị nói, lặng im chấp thuận sự dối trá ấy, trước tiên là anh kẻ bị sát hại, sau đó tới chủ tịch xã đại diện chính quyền rồi ông trưởng phường, vị trưởng lão trong nghề săn Xóm Núi... Tất cả. Không ai dám bẻ lại thứ lý lẽ ngô nghê của người đàn bà:
... Người đàn bà là một thế giới bí ẩn. Không sao hiểu nổi. Họ không để tâm tới sự hợp lý theo lẽ thường mà nghe theo sự chỉ bảo của con tim. Và vì thế chẳng bao giờ đàn ông theo kịp...
Có lẽ người đàn bà sáng suốt hơn đàn ông chính ở nơi u tối nhất trong tâm hồn họ, nơi lý trí không làm việc và sự linh cảm giương lên những cần ăng-ten vô ảnh vô hình nhưng hữu năng.
Hoan nghĩ. Anh lần mối sự việc: Bôn tới nhà Xá chột mượn súng, anh chàng này đưa súng cho bạn mượn một cách sốt sắng rồi cưỡi xe máy xuống chợ huyện mua đồ ăn cho vợ. Lát sau, cô Soan thức dậy vô tình hỏi chuyện thằng cu lớn mới biết sự việc. Người đàn bà vừa đẻ dậy ấy ngửi ra mùi nguy hiểm, không kịp chải tóc bịt khăn chạy xổ đến báo tin cho Miên. Rồi Miên, cũng chẳng kịp thay xống áo chẳng kịp gọi ông Lư đã chạy tắt qua các nương tiêu, nương cà-phê để kịp đón bắt Bôn và chụp lấy cây súng vào khoảnh khắc nó sắp sửa ghim một viên đạn vào đầu anh. Không chút dữ kiện nào để đoán biết sự thật, ngoại trừ sự linh cảm. Vì lý do nào mà hai người đàn bà ở những hoàn cảnh rất khác nhau kia có cùng một suy đoán, một ý nghĩ?... Anh không hiểu nổi. Nhưng anh biết Miên sẵn lòng hy sinh chính sinh mạng của chị để cứu sống anh. Và vì lẽ đó, anh đã chiều theo bất cứ ý muốn nào của chị:
... Em muốn tôi tha bổng cho Bôn, tôi sẵn sàng tuân lệnh em như một tín đồ tuân theo giáo chủ... Nhưng liệu em có hiểu rằng điều đó sẽ nuôi dưỡng lâu dài mối hiểm họa, và cuộc sống tương lai của chúng ta bị đặt trong trạng thái bất toàn?...
Chị đã nắm chặt tay anh, làn môi nhợt khẽ nhếch lên thì thầm:
- Bỏ qua chuyện này đi anh... Vì em, xin anh hãy bỏ qua...
... Nếu như tôi không bỏ qua chuyện này như em muốn?...
Phải, nếu như anh không bỏ qua chuyện này, chính quyền sẽ thi hành phận sự. Bôn phải vào tù nếu anh ta được coi như một người bình thường, trong trường hợp thứ hai, anh ta sẽ bị nhốt vào bệnh viện dành riêng cho những con bệnh thần kinh, Hoan biết quá rõ những bệnh viện loại ấy. Nơi đó, con bệnh bị nhốt như cầm thú trong những căn phòng có các song sắt lớn rào chắn, họ ngủ trên những bậc thềm xi-măng rải chiếu, ăn trong những chiếc bát nhựa lớn và cơm canh đổ lẫn lộn như một thứ cám lợn. Các con bệnh khác phái thường lén lút quan hệ dục tình khi họ mang thai người ta phải trói lại để trục cái thai đó ra vì e đứa trẻ ra đời cũng sẽ mất trí hoặc tiên thiên bất túc.
Ở đó bệnh nhân rất hãn hữu được chữa khỏi. Thường họ nặng thêm lên và xét về phương diện thực tiễn, các viện tâm thần chỉ là những trại giam để cách ly người bệnh với xã hội, để hạn chế ảnh hưởng của họ. Trong cái không gian tù túng ấy, họ hành hạ những người thầy thuốc và đám nhân viên có nhiệm vụ coi sóc họ rồi lại bị chính đám người ấy hành hạ trở lại. Những con người khốn khổ, buộc phải lãnh công việc vừa hiểm nguy vừa buồn chán nhưng lại lãnh một đồng lương tồi tàn đến mức lòng từ thiện bị thui chột trong tâm hồn họ trở thành liều độc dược đầy đọa chính bản thân họ và đám người bất hạnh chịu sự coi giữ của họ. Giữ những bức tường thô bỉ, bẩn thỉu sơn quét lem nhem các cửa sổ và cửa chính đều kết song sắt như chuồng giam thú dữ, những cơn điên bị kích thích theo chiều hướng tồi tệ càng ngày càng tái phát dày đặc hơn, những hành vi phá hoại hoặc gây tội ác càng ngày càng tăng thêm sự man rợ khốc liệt, và tất thảy mau chóng đưa người bệnh tới cái chết.
Anh biết rất rõ điều này. Miên biết rõ cũng như anh. Dù Bôn ngồi tù hay bị nhốt trong viện tâm thần anh ta cũng sẽ đi đến nghĩa địa một cách chóng vánh. Bởi thế, Miên đã tìm cách gỡ tội cho Bôn.
... Hành động ấy bởi lương tâm hay do chút ái tình rơi sót?... Ta đã không nỡ hỏi Miên và sẽ chẳng bao giờ đủ can đảm hỏi Miên điều ấy...
Hoan bất giác thở dài. Anh rút tiếp điếu thuốc khác. Người đàn ông ngồi đối diện phía bên kia hành lang lục trong túi áo một điếu thuốc Hoa Mai Ðà Lạt nhàu nát vuốt cho thẳng rồi tới gần Hoan xin lửa:
- Anh cũng chờ vợ đẻ như tôi?

Kỳ 164
Người đàn ông gợi chuyện, anh ta có một chiếc răng khểnh nên hàm răng ố khói thuốc chợt mang chút duyên thầm.
Hoan gật đầu hỏi lại:
- Anh tới đây lần đầu?
- Không.
Anh ta đáp tức khắc, đoạn rít mấy hơi thuốc liền rồi mới nói tiếp:
- Ðây là bản tình ca thứ hai, người anh em ạ.
... Bản tình ca thứ hai, anh ta lãng mạn thật. Trông bộ dạng như xã trưởng miền núi, vậy mà ăn nói văn hoa ra trò...
Hoan lặng lẽ mỉm cười, búng tàn thuốc ra ngoài trời. Người đàn ông kia cũng cười, và nói tiếp:
- Anh cười tôi ngót ngét năm mươi còn ăn nói lẳng lơ, có đúng không?
Dứt câu, anh ta phá ra cười, giọng cười ròn rã nửa ngạo nghễ nửa chua chát. Lúc đó Hoan mới thấy những nếp nhăn trên hai gò má và nơi đuôi mắt người nói chuyện. Anh ta tới tuổi năm mươi thật. Tóc hai bên thái dương và mang tai đã ngả muối tiêu. Hết cơn cười, anh ta cao giọng đọc một câu thơ hài hước quen thuộc, rõ ra điệu thách thức:
Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn
Chính chuyên thì cũng chẳng son mà thờ...
Cổ nhân đã dạy rồi, chúng ta chẳng sáng tạo được gì thêm... Mà nói cho chính xác, cứ sống được như người xưa dạy cũng đã bạc tóc.
Hoan bắt đầu có thiện cảm với anh ta. Sau cái vẻ chuyện trò bả lả, sau cái cười cao ngạo kia có cái gì đó giống như sự cay đắng, giống như một lời than, giống như sự trách móc hờn oán số phận. Hoan bảo:
- Anh nói hay lắm.
- Không phải tôi nói hay mà cuộc đời này lắm chuyện hay. Anh ta đáp.
Hoan cười:
- Vậy thì anh nói đi... Tôi đang cần giết thời gian và anh cũng vậy. Vợ anh đã vào phòng hộ sinh chưa?
- Không. Vợ tôi đang chờ lên bàn mổ. Viện chỉ có một phòng phẫu thôi. Hiện một sản phụ khác đang nằm trong đó. Nghe nói đấy là một người đàn bà rất đẹp và có cuộc đời tình ái ly kỳ.
... Tôi và em, chúng ta bắt đầu trở thành những nhân vật để người đời đàm tiếu rồi đấy...
Hoan nghĩ với một chút chua chát, hai mang tai và cổ nóng lên. Nhưng anh vờ nhìn người nói chuyện với cặp mắt ngạc nhiên:
- Thế à?... Chuyện gì mà ly kỳ như vậy?...
Ngay lúc đó, bà hộ lý rỗ mặt chạy lặc lè tới:
- Này ông, bà nhà đẻ con trai. Thằng bé hai cân bảy kháu khỉnh ra trò... Nhưng bây giờ ông chưa vào được. Bác sĩ gây mê hồi sức đang làm việc. Con ông được đưa xuống phòng kính rồi.
- Cảm ơn bà.
Hoan nói. Bà ta quay lưng đi, vẻ thỏa mãn như đã trả xong món tiền hậu hĩnh nhận của anh chiều qua. Người đàn ông tóc muối tiêu nhìn Hoan:
- Vậy chính anh là người trong chuyện?... Xin lỗi, tôi không ngờ.
- Anh không cần xin lỗi. Chuyện lạ nào chẳng kích thích trí tò mò. Ðó cũng là sự thường tình...
- Không...
Người đàn ông chợt gằn giọng:
- Không, không... Ðó là chuyện thường tình nhưng cũng chẳng thường tình. Trí tò mò không vô tội như anh nói. Bởi nó luôn đi kèm những định kiến và sự ác độc. Nhiều khi nó giết chết một con người, một tình yêu, phá nát một gia đình mà không phải đứng trước vành móng ngựa, không phải ngồi tù, cũng không có cái mặt dầy để thế gian phỉ nhổ... Cái gọi là trí tò mò, là dư luận, là lời đàm tiếu của đám đông thường vô ảnh vô hình nhưng khủng khiếp. Tôi đã từng là nạn nhân của chúng. Tôi đã từng là nhân vật trong một câu chuyện ly kỳ như anh ngày hôm nay... Vì thế, tôi thành thật xin lỗi anh...
Anh ta nói với vẻ nghiêm trang bất thường và những nếp nhăn khắc khổ hiện lên hai bên mép. Cặp mắt anh bỗng dưng mờ tối, vầng trán cau lại và cả gương mặt như xỉn lại, sạm đi khiến vẻ già nua tàn héo hiện hình. Hoan lúng túng. Anh không có thói quen tâm sự, chia sẻ tâm tình với ai, nhất là với một người vừa quen biết. Anh cũng không có tài an ủi hay khích lệ kẻ khác. Cái người đàn ông cợt cười lúc trước bỗng biến thành kẻ sầu muộn cay độc khiến anh bối rối thêm. Ấp úng mãi, anh mới cất nổi lời:
- Thôi, thôi... Chẳng có điều gì quan trọng đâu... Cái quan trọng là...
May mắn cho anh chính lúc đó bà hộ lý xuất hiện ở cuối hành lang, giơ tay vẫy. Hoan bảo:
- Tôi phải đi...
Anh ta tiếp luôn:
- Vợ anh xong xuôi rồi hả?... Vậy thì đến lượt vợ tôi... Tôi cũng phải đi.
Nói rồi anh ta theo Hoan rảo bước tới phòng mổ và phòng hồi sức hậu phẫu. Bà hộ lý đưa Hoan vào căn phòng dành riêng cho Miên. Một phòng nhỏ xíu cỡ tám thước vuông kê hai chiếc giường sắt sơn trắng có đệm với một bàn nhỏ ở giữa. Các sản phụ khác phải nằm chung, cứ tám đến mười hai người trong một buồng. Anh đã trả một khoản viện phí khá lớn để Miên được xếp một mình trong gian phòng tám thước vuông này. Bà hộ lý chỉ:
- Ðêm nay ông có thể nằm lại đây để trông bà nhà.
- Cảm ơn...

Kỳ 165
Anh đáp và bước lại nơi Miên nằm với đứa con trai. Chị thiêm thiếp ngủ. Thằng bé nằm cạnh mẹ, bọc trong lớp tã trắng giống một cái kén lớn. Nó mở hé mắt nhìn Hoan. Một cái nhìn điềm tĩnh, bình thản, đầy tình bạn hữu:
... Cậu đấy à?... Cậu chờ tớ có lâu lắm không?... Ðừng lo lắng, tớ chẳng đến nỗi nào và mẹ Miên cũng vậy. Mẹ con tớ đều là những kẻ rắn mặt, mạng số rất cao...
Con trai nói thầm vào tai anh như thế. Nói xong nó nhếch mép như muốn cười. Cái nhếch mép đầy ngạo nghễ. Cặp mi nhỏ chớp chớp. Cách chớp mắt đó cũng mang dáng vẻ của kẻ trưởng thành. Hoan sững sờ. Ðứa bé hoàn toàn khác anh trai nó. Ngày sinh cu Hạnh, anh cũng đã vào chào đứa con ngay lúc nó rời phòng hộ sinh, và anh đã gặp một đứa bé sơ sinh như mọi đứa trẻ sơ sinh khác. Cu Hạnh nặng ba cân sáu da mặt đỏ ửng, có những nếp nhăn nhỏ trên trán, mũi lốm đốm trắng vì thai già ngày, nhưng cái nhìn và mọi cử chỉ của nó đều là cái nhìn và cử chỉ của một đứa trẻ lọt lòng, ngỡ ngàng, non nớt thậm chí hơi ngờ ngẩn... Còn thằng bé này, dù là thai đẻ non, nó có vẻ như một cụ già thu nhỏ, vẻ như tất thảy cuộc sống ở thế gian này nó đã thuộc lòng và giờ đây nó quay lại để sống thêm một lần thứ hai, gặp lại những gương mặt từng quen biết, đi lại những ngả đường đã mòn nhẵn gót chân, nhìn lại những phong cảnh không còn gì mới lạ...
- Chưa thấy đứa bé nào bảy tháng tuổi mà già dặn như con trai ông. Vừa lọt qua cửa sinh nó đã hét lên như còi. Xuống phòng thở ô-xy chưa đầy nửa tiếng nó đã quẫy như cá chuối... Thằng này lớn lên có trời trị...
Bà hộ lý cất tiếng sau lưng Hoan. Anh quay lại:
- Những đứa trẻ khác bảy tháng thường nặng bao nhiêu?... Tôi sợ thằng bé này nhỏ quá...
- Không đâu. Những đứa trẻ đẻ non như con ông thường chỉ nặng hai cân mốt, hai cân hai. Nhiều lắm mới nổi hai cân rưỡi. Thằng bé này là vô địch. Không chỉ vì trọng lượng mà còn vì nó cứng cỏi khác thường.
Bà hộ lý đáp, chừng như sợ Hoan còn nghi ngại bà ta nói thêm trước lúc đi ra:
- Tôi làm việc ở đây ngót hai mươi lăm năm. Tôi không nói để lấy lòng ông đâu.
Hoan cúi xuống ngửi mùi da thịt đứa trẻ. Nó cũng thơm như da thịt cu Hạnh ngày trước. Mũi Hoan chạm vào mặt thằng bé, hơi thở ấm và nhẹ của nó phả một chút lay động bên má anh. Từ nơi đó, nỗi xao xuyến lan tỏa:
... Con của cha, dẫu sao con cũng đã có mặt trên cõi đời. Và sự hiện diện của con đem lại cho ta sức mạnh. Con không chỉ là đứa con trai, con chính là bạn, là kẻ đồng hành, là người ta được quyền nương tựa. Bởi con đã ra đời trong nghịch cảnh, giống trái chín giữa mùa giông bão, con biết bám chặt thân cành biết đùa cợt với gió mưa...
Thằng bé vẫn nhìn anh, cái nhìn đầy vẻ hài lòng. Hoan đưa ngón tay út nhẹ nhàng rờ quanh khuôn mặt nhỏ xíu của nó, vờn qua hai gờ lông mày, chạy dọc theo sống mũi xuống bờ môi trên. Thằng bé hoàn toàn giống anh, giống như bản sao. Tất thảy mọi đường nét. Ðiều này cũng khác với cu Hạnh, bởi cu Hạnh là sự hòa trộn giữa hai gương mặt, hai làn da và hai mầu tóc. Hoan nhớ hồi có thai được bốn tháng, Miên bảo anh:
- Thằng bé này sẽ giống anh như lột.
Hoan hỏi:
- Sao em biết được?
- Em biết, vì em là mẹ nó.
Chị đáp gọn lỏn và sau đó bắt tay vào việc gì đó khiến anh không thể hỏi thêm. Một ngày khác chị lại bảo:
- Em sẽ đặt tên con là Hùng.
- Tại sao?
- Em thích thế.
- Ðừng làm anh hùng, anh hùng chẳng sung sướng đâu em.
- Nhưng đứa bé này phải đặt tên là Hùng. Không anh hùng, làm sao nó chào đời?
- Em không muốn con mình sung sướng hay sao?...
- Em muốn... Nhưng mỗi người một phận. Ngày mình có thai cu Hạnh khác... Và giờ đây...
Miên không nói hết câu nhưng anh hiểu rõ điều chị muốn nói:
... Vậy giờ đây ta sẽ đặt tên con là Hùng, đúng ý muốn của mẹ con. Và như vậy, chính con sẽ là cột trụ người phải gánh vác gia đình dòng tộc khi con trưởng thành...
Thằng bé chớp chớp mắt rồi lại nhìn anh, vẫn cái nhìn bình thản, an nhiên cũ. Vì hai tay còn bị bó chặt trong lớp tã hệt như cái bọc kén trắng tinh nên nó chỉ còn lại duy nhất phương tiện biểu cảm là gương mặt. Hoan ngạc nhiên vì từng đường nét, từng thớ thịt nhỏ xíu mong manh trên gương mặt ấy lại có thể truyền cảm một cách tinh vi nhạy bén đến thế. Hoặc vì anh quá xúc động nên hoang tưởng, hoặc vì nó là một trẻ sơ sinh phi phàm nên ý nghĩ của anh vừa chấm hết, hai mép nhỏ xíu đỏ hồng của nó nhích lên nhích xuống mấy lượt và đôi mắt vừa ngạo nghễ vừa vui tươi của nó cất tiếng:
... Yên tâm đi hỡi anh bạn khổng lồ, tớ biết phận của tớ rồi. Mai đây tớ sẽ gánh tất tật những gánh nặng đời trút lên vai tớ. Hãy an hưởng hạnh phúc cho đến tận ngày bạc tóc răng long...
Mắt nó lại chớp. Cái chớp mắt ấy thay cho lời nói cuối, tràn ngập niềm tin và khoan dung...
... Không lẽ mình điên. Hoặc mình tưởng tượng ra mọi sự?...
Hoan kinh ngạc thầm hỏi. Nhưng rồi một tiếng nói khác cất lên:
... Cứ cho là tưởng tượng đi, thứ tưởng tượng đó không mảy may xúc phạm đến sự thật. Bởi trong suốt quãng thời gian đã sống ta chưa từng rơi vào cơn rối loạn và trạng thái hoang tưởng. Rõ ràng những ý nghĩ bột phát trong ta là do nó gợi lên. Con trai ta, cái gã trượng phu tí hon này...
Một niềm kiêu hãnh ào tới, ngập tràn tâm hồn người cha và bỗng dưng nó khiến anh cay xè con mắt. Hoan chợt xấu hổ với chính mình. Anh lấy chiếc chăn len nhỏ chặn thêm cho đứa con dù người ta đã đặt nó nằm phía bên trong Miên, sát mé tường. Xong rồi, anh khép cánh cửa phòng ra hành lang. Ở đó, tìm một góc vắng anh tiếp tục đốt thuốc. Thuốc lá... cái thứ thói quen phiền toái này bỗng trở nên phương tiện hữu hiệu giúp anh giải thoát những cơn bối rối. Ngoài trời mưa bụi vẫn bay. Hoan đưa mắt tìm khóm mai, chúng đã chìm ngập dưới bụi nước. Dọc hành lang những y tá hộ lý và người nhà bệnh nhân lẫn người nhà sản phụ vẫn đi lại, mỗi người theo đuổi công việc và mục đích của mình. Hoan nhìn vào mặt họ, chợt nhận ra con người thật cô đơn. Mặt đất đông đúc, xã hội loài người không khác bao nhiêu xã hội loài kiến nhưng loài kiến sung sướng hơn họ bởi chúng
không cần chia sẻ tâm tình. Con người khốn khổ hơn con kiến vì suốt cuộc đời của họ, họ không thoát khỏi ước muốn tìm thấy kẻ đồng hành, cuộc tìm kiếm đó thường là cuộc tìm kiếm vô vọng:
... Con chính là kẻ đồng hành của cha, con trai yêu dấu...

Kỳ 166

Anh nghĩ, với một niềm hạnh phúc lạ lùng, một hạnh phúc không chờ đón khiến con tim ngây ngất. Nào ai ngờ cái thằng bé tí ti kia lại gợi nên nơi anh cảm thức kỳ diệu ấy. Anh trai nó chỉ là một đứa con, kêu gọi nơi người cha sự chở che và tình âu yếm. Cái thằng bé này ngược lại, nó đã bước vọt qua cái ngưỡng đó, nó gợi nơi anh cảm thức kẻ đồng hành và ngay từ cái nhìn đầu tiên, nó che chở, nó dìu đỡ anh...
Hành lang chợt nhốn nháo:
- Nào, dẹp ra, dẹp ra cho xe đi.... Mọi người dẹp ra...
Tiếng quát của một người đàn ông vang lên, Hoan quay lại: từ phía đầu hành lang bốn y tá đẩy cỗ xe chuyển bệnh nhân tới phòng mổ. Trong bốn người ấy, y tá nam duy nhất luôn mồm hét:
- Dẹp ra, dẹp ra cho chúng tôi nhờ...
Sau xe, một người béo lùn mặc bờ-lu chụp mũ trắng bước đủng đỉnh. Hoan nhận ra ông ta. Ðó là một trong hai bác sĩ phẫu thuật giỏi nhất bệnh viện, người ta đã mách Hoan khi anh lo ca mổ cho vợ mình. Người số một là ông già ngót sáu mươi, cao gầy, tóc cắt trụi, râu cạo nhẵn, gương mặt đầy cao ngạo. Ông bác sĩ béo lùn này chính là nhân vật số hai. Hẳn ông ta nhận mổ cho vợ người đàn ông tóc hoa râm đã nói chuyện với anh lúc trước:
... Trông bộ dạng túng bấn như vậy, làm sao anh ta đủ tiền phong bao cho cả đám người trong bệnh viện này?...
Một khi người nhà bệnh nhân không lo đủ các thủ tục tài chánh, thân nhân họ ắt rơi vào vòng quay đen đủi, phần nhiều sẽ được dùng làm ca thử nghiệm cho tay nghề của đám bác sĩ mới ra trường hoặc của các thực tập sinh. Ðồng tiền quan trọng thật, không trách nhân gian điên đảo vì nó...
Chiếc xe lăn qua mặt Hoan, ông bác sĩ béo lùn đưa mắt nhìn anh hờ hững. Hoan mỉm cười. Tối qua khi anh tới nhà riêng ông ta, bộ mặt tròn vo kia đã nở ra, cặp môi đầy nhục cảm cười nụ cười thân thiện khi anh đặt món quà sang trọng lên mặt chiếc tủ chè. Vợ ông ta, một người đàn bà lùn tròn quay như chồng bưng tới trước mặt anh tách chè pha vội và sau khi lên tiếng mời anh uống trà bằng một giọng quá ư mềm mỏng cũng nở nụ cười đầy tình thân mến...
... Ðó là cuộc đời...
Hoan búng tàn thuốc nghĩ tới người đàn ông tóc muối tiêu. Những lời lẽ văn hoa chua chát, điệu cười khinh mạn và cay độc, làn da tàn héo phong trần... Tất thảy ẩn giấu một bí mật nào đó, một nỗi buồn đã quá quen thuộc với nhân gian nhưng họ vẫn không sao chịu thấu:
... Anh ta là ai nhỉ?... Cái gã đàn ông có tâm hồn dịu dàng đã nhầu nát. Ta đoan chắc như vậy...
Hoan không phải chờ lâu. Gã đàn ông anh vừa đoan chắc có tâm hồn dịu dàng đã nhầu nát đó đang tiến đến trước mặt anh, sau cỗ xe chừng mươi thước. Ði sau anh ta quãng mươi thước là bà hộ lý mặt rỗ, tay vung vẩy một cái túi nhỏ bằng plastic lòe loẹt. Người đàn ông chăm chắm nhìn vào tấm lưng của ông bác sĩ béo lùn, anh ta đi qua mặt Hoan mà không nhìn thấy anh. Vẻ căng thẳng hiện lên từng nét nhăn nhỏ quanh mép, trên gò má. Hai món tóc bên thái dương bị vò rối, xác xơ. Chiếc sơ-mi nhàu nát lòi ra khỏi thắt lưng quần, hẳn anh ta đã qua đêm trên chiếc ghế băng hẹp kê dọc hành lang:
... Tội nghiệp...
Anh nghĩ, và không hiểu vì sao gã đàn ông vừa quen biết kia gợi cho anh một hình ảnh thật sắc nét thật tiêu biểu về kiếp người. Bà hộ lý đã tới trước mặt anh, nở nụ cười cầu tài nhàm chán:
- Ông không chờ bà nhà tỉnh giấc hay sao?
Hoan lắc đầu:
- Tôi muốn vợ tôi được ngủ.
Bà nặc nô hỏi tiếp:
- Thằng bé vẫn thức chơi một mình à?...
Hoan bảo:
- Có lẽ lúc này nó ngủ rồi.
Bà ta lắc đầu:
- Không đâu. Nó đã ngủ đẫy giấc. Mấy cô dưới phòng kính bảo con trai ông ít ngủ hơn trẻ sơ sinh khác, nó tỉnh như ông già.
Hoan ậm ờ, nhìn những múi thịt nhúc nhích trên bộ mặt phàm tục của mụ già, và bỗng dưng, anh không ghìm được cơn tò mò, một thói xấu trước đây chưa từng có:
- Này...
- Ông hỏi gì cơ?
- Vợ người đàn ông gày gò mặc áo xám kia sắp lên bàn mổ?
- Phải. Xương hông cô ta hẹp quá và huyết áp thấp dưới chỉ số bình thường. Ðẻ lần đầu mà khốn khổ như vậy.
- Họ là người ở đâu tới đây?
Mụ nặc nô bỗng giương đôi mắt tròn xoe nhìn Hoan:
- Ông không biết gì sao?... Ông ta là thầy giáo Thông, thầy dạy Lịch Sử giỏi nhất trường cấp ba thành phố.
- Tôi không biết. Có lẽ ông ta tới đây sau năm tôi đã nhận bằng tốt nghiệp.
- Phải, phải...
Mụ già gật đầu lia lịa rồi tiếp tục mở máy:
- Ông ta dạy Sử, vợ dạy Sinh Vật. Họ từ ngoài Bắc chuyển vào trước năm chiến tranh. Hai người có ba con trai. Họ được nhà trường và học sinh rất trọng nể vì dạy giỏi. Nghe đâu có lần đích thân bí thư tỉnh tới tặng quà... Rồi sau năm giải phóng miền Nam, ông ta bỗng dưng bị một con học sinh bỏ bùa chài. Ông ta nhất định bỏ vợ con đi theo nó. Con bé kia cũng vậy, bố mẹ anh em chửi rủa đánh như bổ củi nhưng dứt khoát không chịu bỏ ông ta... Ðấy, kết cục là như thế: Ông ta bị buộc thôi việc phải rời thành phố đến huyện Sơn Quảng làm nghề nhuộm quần áo. Cô vợ đẻ khó nên mới thuê xe về. Ngu dại quá. Ðang là người sang cả được trọng vọng bỗng dưng trở thành đồ tiểu tốt vô danh, rách như tổ đỉa...
Nói tới đó bà ta chìa cái túi plastic cho Hoan xem:
- Ðây, anh ta dúi cái gói bánh chó nhà này vào tay tôi. Chẳng nhẽ lại quẳng ra vỉa hè?...
Hoan nhìn bộ mặt cong cớn và tàn nhẫn đó, mỉm cười, nhớ câu nói cửa miệng của ông giáo Huy:
- Ðời là thế...
... Ðời là thế,... đời là thế...

Kỳ 167
Bỗng dưng lời nói đó lặp đi lặp lại trong óc não anh. Bầu trời bên ngoài như mịt mù hơn, rộng rênh và lạnh lẽo. Khóm mã vĩ đỏ trồng ven hành lang được mưa rửa sạch bóng từng chiếc lá giống thứ cây cảnh làm bằng gốm đỏ. Màu đỏ của nó không sưởi ấm không gian mà ngược lại, chút lửa giả hiệu kia gợi nên cảm giác bất an cho cuộc đời.
... Nếu tôi không tuân lệnh em, nếu tôi đẩy Bôn vào một nhà tù hoặc một viện tâm thần?... Hẳn lương tâm em sẽ bị dầy vò và đó là chất độc dược hủy hoại tình yêu của chúng ta, hủy hoại cuộc sống chung phía trước...
Tôi tuân lệnh em, tương lai chúng ta đặt trong thách thức hiểm nghèo.
Vậy hạnh phúc chỉ là một món hàng trong tiệm cầm đồ, người ta phải chuộc nó bằng một nỗi khổ đau chọn lựa. Cũng giống như trước kia, tôi chấp thuận nhục nhã đặt chân tới ổ điếm để tránh cơn hành hạ dục tình. Giờ tôi chọn sự bất an để khỏi đương đầu với mặc cảm tội lỗi. Ðến hôm nay tôi mới hiểu con người mơ tưởng và tìm kiếm sự hoàn thiện chính bởi nó khuyết diện trên cõi đời...
Hoan đốt điếu thuốc khác và đột nhiên một giả thuyết nảy sinh:
... Nếu Miên là người hành động quyết liệt chỉ để bảo vệ lợi ích và cuộc sống bản thân?... Nếu chị không yêu cầu anh tha thứ cho Bôn mà thúc giục anh tống người đàn ông khốn khổ kia vào tù hoặc vào viện tâm thần, diệt trừ tới gốc rễ mối hiểm họa cho cuộc sống lứa đôi của họ, liệu anh có còn yêu mê chị như giờ đây hay không?...
Hoan không biết. Cũng không giám trả lời. Anh hiểu lòng người quanh co, tình đời oái oăm và bất trắc. Tất cả những gì từng trải nghiệm đã dạy anh như thế. Anh biết anh thuần phục Miên bởi người đàn bà nhỏ bé ấy đầy sức mạnh. Chị chỉ nghe theo lương tri mình và sẵn sàng trả giá điều đã chọn. Anh cũng biết con người có thể vượt được ngục tù trên cõi đất, nhưng không thể vượt được ngục tù trong tâm hồn mình. Họ có thể đạp đổ mọi pháp đình trần thế nhưng sẽ không bao giờ đạp được pháp đình do chính họ xây cất trong tim. Anh biết. Anh biết rất rõ. Nhưng từ cõi sâu kín trong anh, vẫn vọng vang một lời than câm nín:
... Vì sao, và vì sao?...
Anh nhìn thấy một chân trời mong manh trong cơn mưa bụi bên ngoài, nơi đường phân cắt giữa cái sống và cái chết hạnh phúc và bất hạnh của con người vừa đủ như sợi tơ nhện phập phồng trước gió. Phải chăng vì sự bất an mà con người cô đơn sợ hãi và họ có nhu cầu thường trực tìm kiếm kẻ đồng hành?...
... Vậy ta đã có trong tay cái vưu vật mọi người thèm muốn. Con trai ơi, hãy mau khôn lớn, bởi chính cha sẽ tạo ra lịch sử của con, con hoàn toàn thuộc về cha, con không có nợ nần trong quá vãng. Con sẽ đồng hành với cha tới lúc xuống mồ...
Anh tưởng chừng chỉ vài ba tuần lễ nữa thằng bé đã lên năm, lên bảy. Anh sẽ đặt nó ngồi trước yên xe máy, trong chiếc ghế mây. Hai cha con sẽ cùng đi thăm các nương vườn, cùng xuống thành phố vào các quán cà-phê và các tiệm ăn lớn. Anh sẽ đặt nó ngồi đối diện với anh, sẽ chuyện trò với nó như với người bạn tâm tình ngang tuổi tác và nghiệm sinh, tin cậy và bình đẳng hơn bất cứ mối quan hệ nào từng có:
... Không phải cha đối xử bình đẳng với con mà chính con tự giành lấy quyền bình đẳng ấy ngay từ cái nhìn đầu tiên... Con không chỉ là kẻ đồng hành lý tưởng mà còn là đấng nam nhi mạnh mẽ chở che cha. Chính là con, người chở che chứ không phải kẻ cần che chở. Và bỗng dưng, anh cảm thấy anh ngu ngơ, nhỏ dại, mềm yếu bên cạnh đứa con trai bé tí ti kia, đứa trẻ đẻ thiếu tháng nặng hai cân bảy. Anh thấy anh vững tin, được che chở và được an ủi khi nó có mặt trên cõi đời. Rồi mơ màng, anh tưởng thấy gã anh hùng tí hon kia đang cùng anh cưỡi xe máy phóng đi khắp nơi. Mái tóc mềm của nó cọ vào cằm anh, mùi thơm thơ dại từ da thịt tóc tơ nó tỏa lên làm anh ngây ngất. Anh thấy bàn tay bé xíu của nó giơ lên, xoa cái cằm đầy râu của mình... Anh ném đót thuốc, mỉm cười và trở lại căn phòng tám thước vuông, nơi kẻ bảo trợ cho anh vừa ra đời. Nụ cười sung sướng không rời khỏi môi anh, anh bước qua hành lang mà chẳng để tâm tới những cặp mắt tò mò nghi hoặc đuổi theo mình...
Vào lúc đó, ở Xóm Núi, Bôn cũng đang cười sung sướng.
Mưa giăng trên nghĩa địa. Mưa che phủ, vây bọc anh. Không ánh mắt tọc mạch của lũ trẻ, không những lời hỏi thăm ấm ớ nhạt nhẽo của mấy gã chăn dê chăn bò. Một mình anh, yên tĩnh và thanh thản. Nước lạnh thấm vào tóc, vào da thật dễ chịu. Nước dập tắt ngọn lửa cuồng nộ thường bốc cháy phần phật và gào rú trong anh bất cứ lúc nào nó muốn, không thể kiểm soát. Lớp bụi nước trắng bay là là xiên nghiêng kia đẹp làm sao, nó gợi nhớ cơn mưa thời trai trẻ, gợi tiếng cười rúc rích của đám thiếu nữ với dải đồi long lanh sương. Có một loài cỏ giống cỏ lau tên gọi cỏ đuôi chồn, bông cỏ trông như triệu triệu hạt mưa bụi trắng tinh kết lại. Ước gì anh được là mưa. Anh chảy trên lá cỏ trên khóe môi, giữa hai bầu vú đàn bà, chảy qua rốn xuống tận nơi thầm kín của họ. Ước gì anh vẫn còn trai trẻ chơi trò nhảy tưng tưng, vừa nhảy vừa lấy tay gãy con giống dựng ngược như gãy dây đàn, cái trò bọn lính động cỡn thường chơi vào thời kỳ được nghỉ chờ chiến dịch mới. Ước gì anh có phép lạ nhảy một bước lên tới ngọn cây cao và đong đưa trên đó như con diều.

Kỳ cuối
... Nhưng ước với ao làm gì, thứ trò vớ vẩn. Tiểu đội trưởng đã đến đây từ lúc nào chẳng rõ, đứng sau lưng anh. Bôn cười ngượng nghịu:
- Em hay nghĩ ấm ớ... Toàn những chuyện chẳng ra gì.
Tiểu đội trưởng ngồi xuống bên anh, nói:
- Mưa đẹp quá... Hệt mưa xuân ngoài Bắc.
Bôn hỏi:
- Quê anh cũng có mưa bụi như ở đây?
Tiểu đội trưởng gật đầu:
- Như đây và còn đẹp hơn ở đây. Ngoài Bắc trời rét, mưa nhẹ bổng phất phới bay trên các khuôn viên các vườn đào. Cứ lên Quảng Bá, Nhật Tân là sa lầy vào cánh đồng hoa đào, không tìm được lối ra.
Nói đoạn anh im lặng, vẻ xa xăm. Hẳn anh ấy đang mơ những vườn đào Nhật Tân, Quảng Bá.
Bôn không dám hỏi gì thêm, chỉ đưa tay quàng qua lưng tiểu đội trưởng. Lát sau, anh ấy bảo:
- Cậu còn thuốc không? Trời này hút một điếu thuốc thật tuyệt.
Bôn móc túi:
- Em còn cả bao nguyên.
Anh đưa cho tiểu đội trưởng. Những ngón tay xương xẩu trong suốt của anh ấy gỡ một cách khéo léo lớp giấy bọc ngoài rồi xé góc bao:
- Cậu rút trước đi.
- Em không dám, nhường anh.
- Lễ phép cái con khỉ. Rút ra mau kẻo mưa làm ẩm thuốc bây giờ. Nào, được chưa? Lấy bật lửa ra... Ðược, chờ tôi bỏ mũ xuống che đã...
Tiểu đội trưởng ngả mũ xuống che cho Bôn châm lửa. Sau đó, tới lượt anh.
... Anh ấy châm lửa với cùng một động tác như xưa, đầu nghiêng nghiêng bàn tay áp lên vành mũ...
Bôn thầm nghĩ. Người chết không bao giờ thay đổi thói quen kể cả những cử chỉ sinh hoạt nhỏ nhặt. Ngọn lửa vọt lên trên những ngón tay trong suốt, lơ lửng, nửa trắng bạc nửa xanh, lắt leo giữa lớp bụi mưa và hơi gió thoảng.
- Ðược chưa anh?
- Ðược rồi. Tắt lửa đi... À, cho tôi cái bật lửa này. Thỉnh thoảng muốn hút thuốc lại phải đi xin lửa.
- Anh cầm lấy mà dùng.
Bôn đáp và tiếp tục nhìn tiểu đội trưởng: Anh ấy nhét chiếc bật lửa vào túi quần cũng với cùng một động tác cũ: Sau khi thả chiếc bật lửa, anh giơ tay vuốt thẳng mép túi. Chiếc quần của tiểu đội trưởng mỏng tang như dệt bằng sợi dứa ma, thứ dứa dại chỉ mọc ngoài nghĩa địa. Bôn định hỏi tiểu đội trưởng vì sao không mặc quân phục mới nhưng anh chưa kịp lên tiếng tiểu đội trưởng đã nghiêng đầu lắng nghe rồi hỏi:
- Lạ thật, trời đang mưa bụi sao vẫn nghe tiếng gió hú?
- Dạ, có lẽ gió hú trong vực vọng về.
- Ờ, nghe như gió hú trên đồi A46 ở Chiềng Khan... Cậu nhớ cái chốt đó chứ?
- Dạ, em nhớ.
- Tôi vẫn thường quay lại đấy.
- Tiểu đội trưởng nhớ buổi tối thui bò dưới chân đồi không?
- Nhớ. Cậu Quang phệ làm món nước tương chấm thịt bò thui ngon tuyệt. Cậu ấy chết sau tôi hai năm rưỡi, xương vẫn ở chiến trường K.
- Quang phệ tử tế với em lắm. Lần nào trực bếp nó cũng dành cho em miếng cháy to tướng. Còn cậu Thiều, Thiều dân Thái bình, tiểu đội trưởng nhớ không?
- Nhớ.
- Hôm thủ trưởng lữ đoàn xuống ủy lạo anh em, đang nói chuyện nó tương phát rắm đánh bủm...
Hai người cùng bật cười. Bôn nhìn gương mặt tiểu đội trưởng kề sát bên anh. Làn da trong suốt, không đám nốt ruồi tụ như quần đảo trên gò má trái, không vết sẹo trứng cá nơi cằm, cũng không món tóc mai dài rậm thường uốn cong dưới trái tai...
Gương mặt tan loãng, không lông mày lông mi, miệng cười không bờ môi chỉ rõ hai hàm răng trắng...
Nhưng có hề chi? Chẳng hề chi? Ðó vẫn là gương mặt gần gũi nhất với anh, thuộc về anh, cùng anh.
Phía sau gương mặt ấy, những nương tiêu nương cà-phê những xóm làng nhấp nhô cao thấp và xa hơn nữa giải đồng lúa hẹp nối tới miền cát ven biển phía Ðông, tất cả với anh giờ đây là hoang mạc là chốn vắng. Một cõi không người. (Hết)

Ngày 23 tháng 11 năm 1998

Tuesday, February 3, 2015

“Mốt đổi tình nhân” thời @ ở vùng Thung lũng điện tử Silicon Valley

“Mốt đổi tình nhân” thời @ ở vùng Thung lũng điện tử Silicon Valley

Họ có thể hưởng dục thú với nhau, hoặc có thể đổi bạn tình, trong khi số khác chỉ ngồi xem. Đổi bạn tình chẳng phải điều gì mới mẻ, nó đã có từ lâu, xưa rồi Diễm, nhưng nó khác biệt kể từ khi được gắn với kỹ nghệ thông tin. Ben Fuller chính là người đã nghĩ ra Bronze Party vào năm 2011. Trước đó, ông đã bán công ty vừa mới thành lập chỉ dưới $5 triệu mỹ kim hồi năm 2000. Fuller tiết lộ, có 1.300 hồ sơ ghi danh tham gia vào Bronze Party.
 
San Francisco - Photo courtesy: pinterest.com

“Khám Phá Silicon Valley” – đó là một series nhiều bài được đăng trên nhật báo Cali Today để qúy độc giả xa gần theo dõi. Nói đến Silicon Valley là nói đến thung lũng điện tử, mà tên gọi này là biểu tượng thời @ trên toàn thế giới. Thế nhưng, ít người thật sự hiểu được Silicon Valley. Cũng tại nơi này, có một cộng đồng đông đảo nhất người Việt tại hải ngoại. Những người Việt ấy sống thế nào trong thung lũng ấy? Đó cũng là điều nhiều người tò mò. Kể từ số này, chúng tôi mở mục mới “Khám Phá Silicon Valley” để mời bạn đến với thung lũng đa dạng, lừng danh và muôn mặt này.
 
Cali Today News - Mỗi tháng một lần, một nhóm nhiều thành phần gồm các doanh nhân, bác sĩ, các nhà tài chánh, và nghệ sĩ thường tụ họp trong một tòa nhà trên đồi Potrero, San Francisco. Đây chính là tiệc Bronze, hay Bronze Party, là dịp để các cặp nhân tình nhảy nhót, uống rượu, và nếu có cảm hứng họ còn có thể đi xa hơn nữa, hưởng thụ dục tính với những người khách khác có mặt trong buổi tiệc.
 
Bronze Party được nhắc đến như là một buổi “hội hè thời thượng,” một từ dùng khá khiêm tốn ám chỉ đến những bữa tiệc đổi tình nhân qua đêm.
 
Dưới lầu, nữ giới mang vớ lưới đen gợi cảm trong đôi giày cao gót, sánh bước bên cạnh chồng hay tình nhân. Vài giờ trôi qua, nhiều người sẽ cởi bỏ bớt đồ trên người. Trên lầu là “phòng tiêu khiển” với nhiều tấm nệm bọc vải đỏ, nơi mà sau đó nhiều cặp sẽ dìu nhau tới.
 
Họ có thể hưởng dục thú với nhau, hoặc có thể đổi bạn tình, trong khi số khác chỉ ngồi xem. 
Đổi bạn tình chẳng phải điều gì mới mẻ, nó đã có từ lâu, xưa rồi Diễm, nhưng nó khác biệt kể từ khi được gắn với kỹ nghệ thông tin. Ben Fuller chính là người đã nghĩ ra Bronze Party vào năm 2011. Trước đó, ông đã bán công ty vừa mới thành lập chỉ dưới $5 triệu mỹ kim hồi năm 2000. Fuller tiết lộ, có 1.300 hồ sơ ghi danh tham gia vào Bronze Party.
 
Fuller và một đồng nghiệp khác cùng điều hành Modern Lifestyle, một nền tảng giao diện kết nối 50 câu lạc bộ tình dục trên khắp cả nước. Phần mềm của họ cho phép khách hàng thấy được ai sẽ tham gia vào những buổi tiệc như vậy và mua vé.  Năm ngoái, họ thu về $3 triệu mỹ kim tiền bán vé.
 
Fuller cũng đánh dấu một số thành viên là kỹ sư điện tử trong danh sách riêng của mình. Ông cho biết một số doanh nhân công nghệ tham dự hội hè kiểu này thường đóng góp những ý kiến giá trị. “Họ hay có những ý tưởng rất hay về công nghệ mà tôi cần ứng dụng ở đây, tại Bronze Party,” ông nói, rồi dẫn chứng thêm về một nhà phát triển Iphone giúp quản lý thông tin liên lạc, một chuyên gia về email giúp vượt được màng lọc (filter) của Gmail, và một nhà thiết kế giúp sắp xếp lại trang web và những ứng dụng trên điện thoại di động. 
 
“Chúng ta đang ở thung lũng điện tử, người ở đây không chịu được những trang web tệ,” Stella, một kỹ sư điện tử  tham gia Bronze Party, nói.
 
Stella lập gia đình với Greg cũng là kỹ sư được 10 năm, cả hai đều chơi tham gia vào trò đổi bạn tình. “Nếu anh độc thân, anh có thể đi bar, đón ai đó rồi tối khuya đưa họ về nhà, ở đây anh có thể nghe đến điều đó ngay cả với những người đã lập gia đình,” Greg hào hứng chia sẻ.
 
Các thành viên khám phá Bronze Party thông qua ứng dụng Secret, cho phép người sử dụng đăng dưới dạng nặc danh, Fuller cho biết. Có người nói, “Ồ, tụi tôi nghe về nó ở trên Secret.” 
 
Ở thập kỷ 70, việc trao đổi bạn tình thường diễn ra tình cờ. Người ta gọi những cặp tham gia là “những người cầm chìa khóa” (key partners). Vào cuối đêm, đàn ông sẽ để chìa khóa xe của mình vào một cái chậu, những người phụ nữ chọn ngẫu nhiên một chiếc chìa khóa nào đó, rồi theo chủ nhân của chiếc chìa khoá xe đó để về nhà anh ta qua đêm. 
 
Những nhóm như vậy vẫn tồn tại, nhưng kỹ nghệ thời @ đã giúp cho người ta tìm người khác một cách dễ dàng hơn, Fuller nói, “Ngày xưa, anh không biết anh sẽ đi đâu, nhưng bây giờ mọi thứ đều chi tiết, thậm chí có cả hình của những người tham gia.” 
 
Để chuẩn bị cho buổi tiệc, nhiều thành viên trong câu lạc bộ Bronze dùng một chức năng gọi là “Auto Date” (Hẹn hò tự động). Nó cho phép người ta tìm thấy thông tin để chọn người mình thích. Người chọn hay người được chọn đều sẽ nhận được thông báo, Fuller giải thích thêm.
 
Đúng là một thế kỷ 21, một thế kỷ mà mọi thứ đều khởi đầu trên bàn phím!

Thursday, January 8, 2015

Trái Rạ

Trái rạ, tiếng Mỹ gọi là “chicken pox” hoặc “varicella,” là bệnh nhiễm trùng gây ra ban ngứa với các mụn nước, rất dễ lây lan.

Trái rạ không phải là sởi hay Rubella, mà được gọi là Varricella. Ðây là một bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào.


Bệnh gây ra bởi varicella-zoster virus (VZV). Virus (siêu vi trùng, vi rút) này đi vào cơ thể qua miệng, mũi sau khi tiếp xúc với người bệnh.


Người bệnh bắt đầu có thể lây bệnh từ một ngày sau khi nổi ban cho đến khi tất cả các mụn nước đều đã đóng vẩy.


Một khi đã bị trái rạ, hầu như tất cả các bệnh nhân đều sẽ có sức đề kháng với bệnh này suốt đời, tức là sẽ không bao giờ bị trái rạ nữa. Trừ trường hợp người bệnh bị bệnh này lúc quá nhỏ, hệ thống miễn nhiễm của cơ thể chưa có khả năng sản xuất ra kháng thể.


Vì trái rạ có sức lây lan rất mạnh, hầu như 90 phần trăm những người trong gia đình người bệnh sẽ bị lây bệnh, nếu những người này chưa có sức đề kháng với bệnh (nhờ thuốc chủng ngừa, hay đã từng bị bệnh này rồi).


Trước lúc có thuốc chủng ngừa (được chuẩn thuận hồi năm 1995), trái rạ thường xảy ra thành dịch, thường thường vào cuối mùa Ðông, đầu mùa Xuân. Từ khi có thuốc chủng, và được khuyến cáo chủng ngừa cho tất cả trẻ em, các trường hợp trái rạ đã giảm đi một cách rất đáng kể.


Trái rạ, dù là thường có triệu chứng rất khó chịu, trong đại đa số các trường hợp, thường tự khỏi.


Tuy nhiên, bệnh này cũng có thể dẫn đến các biến chứng trầm trọng, ngay cả có khi dẫn đến tử vong. Khoảng một phần trăm trẻ em bị trái rạ có thể bị biến chứng viêm phổi, viêm não (encephalitis), hoặc bị biến chứng ở gan, hoặc nhiễm trùng da một cách nguy hiểm.


Thiếu niên và người lớn, nếu bị trái rạ, thường có nguy cơ cao hơn bị các biến chứng.


Sau khi khỏi bệnh, virus vẫn thường tồn tại một cách yên lặng trong hệ thống thần kinh của người bệnh suốt đời. Ðến khi nào đó, sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm, chúng sẽ “vùng lên,” gây ra bệnh giời leo (tiếng Mỹ gọi là zoster hay shingles).

Triệu chứng
Các triệu chứng của trái rạ thường xuất hiện khoảng 10 đến 21 ngày sau khi người bệnh bị lây.

Thường gặp, đầu tiên là sốt và uể oải. Sau đó là ban ngứa, với các nốt đỏ nhỏ. Các nốt đỏ này sẽ phồng lên thành mụn nước. Các mụn nước này thường tròn, với đường kính khoảng 5 đến 10 li (millimeters), (khoảng cỡ cục gôm ở đầu viết chì), có đáy màu đỏ (như hạt sương trên lá hoa hồng đỏ).


Các mụn nước này có thể xuất hiện khắp cơ thể, ngay cả ở trong miệng, họng, hoặc âm đạo.


Có người có thể chỉ có khoảng 50 mụn trở lại, có người có thể có vô số, không đếm nổi. Trong những ngày sau khi xuất hiện, mụn nước có thể ở các giai đoạn khác nhau, và cuối cùng tất cả đều đóng, rồi tróc vảy, mà không để lại sẹo (như trong bệnh đậu mùa).


Các mụn nước thường xuất hiện trong khoảng 3 đến 5 ngày, sau đó đóng và tróc vảy trong khoảng 7 đến 10 ngày sau đó.


Ở các trẻ khỏe mạnh, trái rạ thường nhẹ, da sẽ trở lại bình thường trong vòng hai đến bốn tuần. Ðôi khi có thể để lại vài vết sẹo mờ.


Nếu gãi, sẹo có thể sẽ nặng hơn nhiều.


Cần nhắc lại là, trong một số trường hợp nhỏ, trái rạ có thể dẫn đến các biến chứng trầm trọng, cần phải nhập viện, đôi khi có thể để lại biến chứng suốt đời, thậm chí cả tử vong.

Ðiều trị
Bác sĩ có thể dùng thuốc chống virus acyclovir (Zovirax) để hạn chế triệu chứng của bệnh trái rạ (thường chỉ cần) ở người lớn. Tuy nhiên, cần chú ý là thuốc này chỉ có hiệu quả nếu bắt đầu ngay trong 24 tiếng sau khi tiếp xúc với bệnh. Do đó, cha mẹ của các trẻ bị trái rạ nên gọi bác sĩ càng sớm càng tốt xem có cần dùng thuốc hay không.

Các trẻ em khỏe mạnh, nếu bị trái rạ, thường không cần dùng thuốc này. Vì các nghiên cứu cho thấy có vẻ như là thuốc không giúp được gì lắm. Các bác sĩ của các cháu sẽ là người quyết định việc có nên dùng thuốc không.


Trong đa số các trường hợp, thường chỉ cần trị triệu chứng ngứa ngáy của trái rạ và phòng ngừa các nơi mụn nước bể ra bị nhiễm trùng do các em gãi.


Một số chất dùng ngoài da như calamine lotion, oatmeal baths có thể giúp giảm ngứa. Nếu không đủ, bác sĩ có thể khuyên dùng thuốc uống giảm ngứa.


Nhớ cắt móng tay cho trẻ, và nhắc trẻ không gãi, để tránh nhiễm trùng. Nếu có dấu hiệu nhiễm trùng, người bệnh sẽ cần dùng trụ sinh (như Benadryl).


Nếu bị sốt, ta có thể dùng Tylenol (acetaminophen). Ðiều rất quan trọng, là không dùng aspirin ở trẻ em, vì thuốc này có thể gây ra hội chứng Reye (Reye's syndrome), là một tình trạng nguy cấp, có thể dẫn đến chết.


Cần nhắc lại, nhớ gọi và gặp bác sĩ sớm nếu bị nổi ban.


Nếu đã gặp bác sĩ rồi và được chẩn đoán là bị trái rạ rồi, cần gọi lại bác sĩ ngay, nếu bệnh nhân phát triển các triệu chứng sau:


-Sốt từ 103 độ F (Fahrenheit) trở lên.


-Ngứa không thể kiểm soát được.


-Mụn nước bị đỏ, sưng, có mủ.


-Mụn nước ở gần mắt.


-Nhức đầu dữ dội, lơ mơ, ói mửa (có thể là triệu chứng của biến chứng viêm não).


-Ho, khó thở (có thể là triệu chứng của biến chứng viêm phổi).


Ðể tránh lây lan, người bệnh nên (tạm thời) tránh tiếp xúc với những người khác trong nhà chưa có miễn nhiễm với bệnh, nhất là những người dễ bị lây hơn (như bị bệnh kinh niên, dùng các thuốc làm giảm sức đề kháng của cơ thể như steroid).


Nếu chưa từng bị trái rạ bao giờ, ta nên hỏi bác sĩ để được chích ngừa. Nếu là phụ nữ, đang dự định sẽ có thai, càng nên gặp bác sĩ càng sớm càng tốt để được chích ngừa trái rạ và các bệnh cần được chủng ngừa khác.


Thân mến,


Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

Làm trắng răng

Làm trắng răng

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức
Từ ngày xửa ngày xưa, các cụ ta có một thói quen làm đẹp rất là dễ thương, đó là tục lệ nhuộm răng và đa số là nhuộm răng cho đen bóng như những hạt huyền. Vì “răng đen nhi nhí, ông Lý cũng khen” hoặc:

“Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bõ công trang điểm má hồng răng đen.”

Tục nhuộm răng này vừa là làm đẹp vừa có thể là để che giấu những vết đổi màu trên răng. Tục này đã đi vào quá khứ, và ngày nay hàm răng trắng bóng, để nụ cười thêm duyên dáng là điều mà mọi người đều mong muốn. Cho nên, chẳng may nếu một vài chiếc răng lại có những vết vàng, vết nâu vết xanh xám thì ai ai cũng tìm cách tẩy xóa.

Và khoa học hiện đại đã giải đáp nhu cầu làm đẹp này.
Cấu tạo răng
Về cấu tạo, răng trắng là nhờ có một lớp men trắng phủ lên mặt ngoài của răng. Men được tạo thành bởi những ống nhỏ li ti cứng như xứ xếp thẳng đứng sát cạnh nhau để che trở cho răng, Dưới men là những ống nhỏ khác xen kẽ vào nhau gọi là ngà răng có màu vàng. Nhìn qua kính hiển vi, răng giống như một tổ ong.
Chất màu trên răng
Răng từ màu trắng chuyển sang màu vàng bằng hai cách:
a. Từ bản thân của răng như:
-Với tuổi già, men răng mòn và để lộ lớp dentin có màu vàng;
-Răng bị tổn thương do va chạm;
-Vì thuốc kháng sinh tetracycline mà cháu bé dùng hoặc từ bà mẹ mang thai, cho con bú mà uống thuốc này;
-Vì quá nhiều fluoride trong nước;
-Vì di truyền hoặc một vài bệnh bẩm sinh cũng khiến men răng đổi màu.
Giới chuyên môn gọi các loại chuyển mầu này là “mầu nội tại” mà bàn chải đánh răng không tẩy đi được.
b. Từ bên ngoài như:-Thuốc lá: Hút thuốc lá là rủi ro thông thường nhất làm cho răng chuyển sang màu ngà vì khói và chất nicotin của thuốc lá. Không những thế, khói thuốc là còn làm cho miệng hôi, viêm nướu răng và ung thư phổi.
-Nước uống có chất caffeine như cà phê, nước trà quá đặc hoặc nước trái cây blueberry, rượu vang đỏ đều dính vào răng khiến cho răng trở nên vàng.
-Một số dược phẩm chống dị ứng, trầm cảm, cao huyết áp đôi khi cũng tạo ra vết vàng trên răng.
-Chất sắt, fluoride cũng có tác dụng tương tự đối với răng.
-Không chịu đánh răng hoặc cà khe răng mỗi ngày khiến cho các chất màu bám vào răng;
-Dùng quá nhiều nước súc miệng có chất Peridex (Chlorhexidine gluconate) cũng làm răng đổi màu;
-Một số chất dùng để trám răng sâu làm bằng bạc có màu cũng có thể làm răng đổi màu.
Có hai loại chất tẩy
Hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm để tẩy những vết vàng bám trên mặt răng chứ khó mà loại bỏ được sự đổi màu của ngà răng.
Có thể làm răng trắng bằng các phương thức cổ điển như cạo răng, nhuộm răng, chà răng với bột than hoặc cau khô, nhưng hiện nay được thay thế bằng hóa chất.

-Hóa chất thường dùng là chất tẩy hydrogen peroxide và carbamide peroxide có thể làm mất vết màu thấm trong răng hoặc dính trên răng.

-Loại không có chất tẩy chỉ lấy đi vết màu trên răng.

Tại phòng mạch, nha sĩ thường dùng loại tẩy rửa có nồng độ peroxide cao từ 15-20%. Nha sĩ cũng có thể trao cho bệnh nhân các dung dịch peroxide để chấm lên vết màu hoặc để dán lên răng, rất dễ dùng. Ta cũng có thể mua các loại thuốc tẩy màu trên thị trường, nhưng nhớ đọc kỹ hướng dẫn để biết cách dùng cũng như để tránh tổn thương cho miệng.

Chất tẩy chỉ có tác dụng đối với răng thật chứ không có công dụng đối với răng giả, bọc chụp răng, răng trám.
Răng có màu vàng thường dễ dàng tẩy thành trắng hơn là răng có vết xám, nâu.

Trước khi tẩy răng, nên giảm tiêu thụ một số thực phẩm như nước trà, cà phê, rượu vang đỏ. Cũng nên tránh nước giải khát có hơi như soda làm mòn men răng. Nhớ đánh răng sau khi ăn.
Sau khi tẩy, răng trắng được bao lâu?
Tùy theo tình trạng răng của mỗi người, loại vết ố và loại chất tẩy nhưng thường thường răng chỉ trắng được vài tháng. Nếu tránh các chất gây ra vết ố thì răng trắng kéo dài được một năm, rồi lại phải tẩy lại.

Nhiều bác sĩ khuyên là không nên tẩy quá trắng: Chỉ hơi trắng hơn lòng trắng của mắt là đủ rồi.Tẩy răng ở nhà với ở nha sĩ có khác gì nhau không?Khác nhau ở chỗ chăm sóc và chất tẩy rửa.

-Tại phòng mạch, bác sĩ sẽ khám bệnh và chụp hình X-quang răng coi xem có bệnh thì điều trị trước khi tẩy răng.

-Khi tẩy răng bác sĩ cũng áp dụng vài cách để bảo vệ phần mềm ở miệng khỏi bị chất tẩy làm tổn thương.
Chất tẩy rửa ở nha sĩ cũng có nồng độ hydrogen peroxide cao hơn là thuốc mình mua tự do hoặc do bác sĩ bào chế cho mình.
Thuốc càng mạnh, áp vào răng càng lâu thì răng càng trắng, nhưng sau đó răng cũng ê ẩm hơn một chút.
Thêm vào đó, “miếng thuốc” tẩy răng cũng vừa hàm răng của thân chủ, chứ không như hàng làm sẵn “one size fit all” mà mình mua.

Ðôi khi bác sĩ cũng rọi đèn hoặc hơi nóng để chất tẩy ngấm vào răng mau và nhiều hơn.
Những ai không nên tẩy trắng răng?
-Trẻ em, phụ nữ có thai.
Không nên tẩy răng ở trẻ em dưới 15 tuổi và phụ nữ đang có thai.
Ở trẻ em, ống tủy răng hơi lớn và đang phát triển cho nên rất nhạy cảm với chất tẩy khi bị kích thích.
Với phụ nữ có thai hoặc cho con bú sữa mẹ thì các bác sĩ nha khoa đều khuyên nên đợi sau khi sanh, vì các chất tẩy rửa có thể vào máu người mẹ và ảnh hưởng tới con. Ðúng ra thì cho tới bây giờ, chưa ai biết ảnh hưởng của hóa chất với thai nhi như thế nào, cho nên nha sĩ đều dè dặt.

-Bệnh nướu, sâu răng, chân răng lộ.
Khi nướu răng bị tổn thương nên hoãn tẩy vì hóa chất có thể làm nướu hư nhiều hơn.
Răng sâu cần được trám trước khi tẩy để tránh hóa chất chui vào lỗ sâu. Vả lại, chân răng đã lộ không mòn men thì cần gì tẩy trắng.
Nên để ý là bảo hiểm sức khỏe không trả tiền cho dịch vụ làm trắng răng.
Nhuộm răng đen
Tiện đây, xin tìm hiểu cách nhuộm răng của tiền nhân.
Tục nhuộm răng đen xuất hiện từ thời các Vua Hùng.

Sử sách ghi lại rằng: Trong một dịp đi sứ tại nhà Chu, sứ thần Văn Lang có “báo cáo” với vua nhà Chu rằng “Chúng tôi có tục ăn trầu để khử mùi ô uế và nhuộm cho răng đen...” Tục này vẫn còn thịnh hành cho tới nửa đầu của thế kỷ 20, nhất là ở miền Trung và Bắc Việt Nam.

Thường thường từ thuở 12, 13 tuổi là trai gái đã bắt đầu nhuộm răng rồi. Nhuộm răng là cả một việc làm khá cầu kỳ, tốn thời gian và người muốn có răng đen cũng trải qua cả mấy tuần lễ đau đớn khó chịu trong miệng. Nhưng răng đen được ca tụng như một nét đẹp đặc biệt như là:
“Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bỏ công trang điểm má hồng răng đen.”
Hoặc:
“Năm quan mua lấy miệng cười,
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.”
Cho nên họ cắn răng chịu đựng.
Vật liệu nhuộm răng gồm có bột nhựa cánh kiến, nước cốt chanh, phèn đen và nhựa của gáo dừa đốt cháy.

Cụ Phan Kế Bính tóm lược cách nhuộm răng như sau:
“Trước hết dùng các cánh kiến tán nhỏ, vắt nước chanh để kín 7 ngày, chờ tối đi ngủ phết thuốc ấy vào hai mảnh lá dừa hoặc mo cau rồi ấp vào hai hàm răng. Trong khi nhuộm răng thì phải kiêng nhai. Nhuộm như thế 5, 7 ngày cho răng đỏ già ra màu cánh gián thì bôi thuốc răng đen. Thuốc răng đen làm bằng phèn đen trộn với cánh kiến, nhuộm 1, 2 miếng là đen kịt lại, đoạn lấy cái sọ dừa để con dao mà đốt cho chảy nhựa ra, lấy nhựa ấy phết vào răng cho không phải ra được nữa.”
Răng nhuộm như vậy sẽ bền chắc suốt đời người, không còn bị sâu hoặc mòn. Có nhiều cụ bà tám chín chục tuổi mà răng vẫn còn chắc, vẫn đen nhánh như những hạt huyền.

Có lẽ các khoa học gia ngày nay cũng nên tìm hiểu thêm về kỹ thuật nhuộm răng này. Nhưng thay vì nhuộm đen, ta có thể nhuộm trắng, vừa đẹp vừa bền.

Ảnh Đẹp

Ảnh Đẹp






Một Sử Ký

Jésus Nazareth sinh tại Bethlehem ở xứ Judea , nơi vua David ra đời hàng ngàn năm trước đó. Thời đó có hai thành Bethlehem : một cách Jerusalem vài dặm, thưa dân cư; là nơi sinh của vua David; và một ở Galilée cách Nazareth bốn dặm, nơi có căn cứ trong Kinh Thánh. Tuổi của Jésus còn là đề tài gây tranh cãi. Ngài sinh khoảng từ thế kỷ 6-BC đến 5-BC và chết vào ngày thứ 14 thời Nisan trong lúc Pontius Pilate (người Roma) và Caiaphas (Jew) cai quản Judea (từ năm 26-37-AD).

Đại đế Julius Caesar 55 tuổi (được tung hô là Divus Julius = Julius Thượng đế) bị các nghị sĩ ám sát chết tại Roma hôm 15/3 năm 44-BC. Hôm đó ông định bãi bỏ cuộc họp nghị viện (có 900 nghị sĩ) vì tin theo ác mộng của Calpurnia, bà vợ 16 tuổi cưới hồi ông 40 tuổi. Decimus Brutus, một tướng lãnh thân cận từng đánh bại hạm đội Venetian trong trận Gallic và có chân trong phe đảo chánh, khuyên Caesar cứ họp đừng tin dị đoan.Cuộc họp này dự trù sẽ bầu Caesar làm đại đế trọn đời không thể trì hoãn vì sau cuộc họp hôm 18/3, Caesar phải thân hành đi viễn chinh nhiều tháng, có khi nhiều năm mới về. Trong số 60 nghĩ sĩ đối lập có Decimus Junius Brutus Albinus cựu tướng, Lucius Tillius Cimber nghiền rượu. Trong số các hung thủ có Casca Longus, Decimus Brutus và Marcus Brutus 41 tuổi mà lời đồn cho là con rơi của Caesar. Caesar chết do nhát dao cuối cùng của Marcus đâm vào háng đứt động mạch khiến Caesar qụy xuống từ tư thế đứng sau khi kêu lên sửng sốt “mày nữa hả con?!”. Ông là người có tham vọng cai trị lâu dài một đế quốc hàng ngàn năm nên đã lập lịch mới lấy tên mình và chia một tuần thành 8 ngày thay vì 7 ngày như lịch Do-thái. Ngày thứ 8 gọi là G. Ngày thứ 7 họ gọi là Saturn theo thứ tự các tinh tú của vũ trụ là mặt trời, trăng, hỏa tinh (mars), Mercury, Jupiter, Venus và Saturn. Người Jews gọi thứ 7 là Sabbath.

Sau khi Caesar chết, Marcus thua trận Philippi phải tự tử. Octavian và Marc Anthony tranh nhau ngôi báu. Marc Anthony bị Quintus Dellius làm phản nên thua trận Actium (Hy-lạp) năm 31-BC; phải tự tử chết trong vòng tay của Cleopatra. Cleopatra vì không muốn lọt vào tay Octavian nên cũng tự tử bằng độc dược ở tuổi 39. Sau đó, Octavian lên ngôi lấy vương hiệu là Caesar Augustus. Vào thời kỳ này, Jerusalem do giới tăng lữ cầm quyền nhưng không có quyền kết án tử hình. Có nhiều cuộc nổi loạn chống triều đình Roma; lớn nhất là vụ hồi thế kỷ 4-BC khi đó Jesus mới một tuổi.

Vua Herod 69 tuổi lai nửa Do-thái, nửa Ả-rập và bệnh hoạn; được người Roma đưa lên cầm quyền. Ông giết thai nhi và hài nhi bằng loại gươm giáo thịnh hành thời ấy (Tk 5-BC) gọi là “pugio” và “gladius”. Ông có 10 vợ; từng giết Mariamme, mẹ bà và hai con trai của ông là Alexandre và Aristobulis. Đại đế Caesar Augustus đã chả ví von thói hiếu sát của ông “thà là con heo của Herod còn hơn là con trai ông ta”! Thời ấy tuổi thọ trung bình của con người chỉ độ 40.

Herod nghe các du khách thượng lưu, tức “Magi” nói về Jesus trên đường đến Bethlehem để thờ phụng Ngài. Họ là các học sĩ nghiên cứu sách Tanakh (Cựu Ước), Torah (5 quyển đầu của Tanakh) và Talmud (viết 600 năm sau). Trong số khách viếng có Anna, nữ tiên tri duy nhất được đề cập trong sách của Luke, người tiên đoán Jésus sẽ giải phóng Jerusalem từ tay đế quốc Roma.

 Khi Jésus lên 12 tuổi, ngài bị lạc trong đám hành hương hôm 22/2 năm 7-AD lúc giữa trưa. Cha mẹ ngài trên đường về Galilée phát giác kịp bèn quay lại Jerusalem để tìm. Jerusalem và vùng phụ cận thời đó được gọi là Judea , một phần của tỉnh Syria . Họ tìm được con trưa 23/3 trong đền Hewn Stone (xây trong 46 năm) thấy Jésus đang nói chuyện với các học sĩ. Khi bị mẹ trách móc, ngài đã đáp, giọng Galilée: “Mẹ không biết rằng con đang ở trong nhà Cha con sao?”. Trong câu nói này, Jésus đã “lộng ngôn” ám chỉ mình là con Thiên Chúa; theo luật Do-thái đáng lẽ phải lãnh án tử nhưng được miễn vì tuổi vị thành niên. Sau đó cả nhà trở về Nazareth . Theo Kinh Thánh, Jésus có 4 anh em ruột: James, Joseph, Judas và Simon và có cả chị em gái nữa nhưng không được nêu con số và tên gọi. GHCG cho rằng họ là anh chị em họ. Chính Thống giáo cho rằng họ là anh chị em cùng cha khác mẹ vì Joseph góa vợ trước khi chung sống với Mary. Các giáo phái Tin Lành khác thì cho họ là các anh chị em ruột của Jésus. Jésus thường phụ cha làm mộc 6 ngày một tuần. Cha Joseph mất năm Jésus 13 tuổi thời Herod Antipas làm vua Israel . Danh xưng “Israel ” (nghĩa là “đất hứa”) là tên nguyên thủy thời ấy; được dùng lại kể từ 14/5/1948 khi LHQ cho tái lập quốc gia này.

 Caesar Augustus phong cho Pontius Pilate, một cựu sĩ quan miền Trung Ý cai quản Judea . Pilate cùng vợ Claudia sống trong dinh với 3,000 quân sĩ. Pilate phải dùng Caiaphas người Do-thái (Jew) đã từng làm trưởng giáo hàng chục năm để cai quản việc thường vụ và đặc trách tôn giáo vụ. Caiaphas theo dõi John Baptist giảng đạo để tìm bắt ông. Jésus xuất hiện trên sông Jordan ; đang cùng John giảng đạo thì có con bồ câu bay đến đậu trên vai (4 Thánh Thư đều nhắc đến con chim này: Matthew, Mark, Luke và John. Họ viết 70 năm sau khi Jésus qua đời; ở các độ tuổi theo thứ tự 70, 50, 59-63 và 50-85. John ghi nhận con chim đậu trước khi Jésus làm phép Rửa thay vì sau khi đó như ba người kia). Khi hay tin Herod Antipas bỏ vợ (con gái vua Aratas IV của xứ Nabatea) để lấy bà Herodias, vợ của anh em mình, John đã cực lực lên án và bị Herod bắt. Trong tù, John cũng được nghe biết về các hoạt động của Jésus như giúp người mù sáng mắt, người điếc được nghe, người chết sống lại . . .Qua năm sau trong một dạ tiệc, sau màn vũ của con gái bà vợ Herodias, Antipas lỡ hứa thưởng nó nên mẹ nó bảo nó xin Herod Antipas cái đầu của John đặt trong khay bạc. Theo sử gia Josephus, Antipas sau này mất vương quốc vì đã giết người vô tội này.

 Sau khi Augustus và 2 con trai (con nuôi ? Germanicus 33 tuổi và con trai Drusus 34 tuổi bị vợ và người tình Sejanus Livilla đầu độc) qua đời, Tiberius Julius Caesar lên ngôi. Trong thời kỳ này, Jésus vào đền thánh trong một dịp lễ Passover (Vượt Qua); dùng roi bện dây thừng đánh đuổi bọn đổi tiền và con buôn đủ loại. Khi bị chất vấn về thẩm quyền, Jésus thách “hãy phá hủy đền thờ này rồi ta sẽ xây lại trong ba ngày”. Sự kiện này xảy ra lúc khởi đầu việc giảng đạo (John 2:14 -22); nhưng theo Matthew ( 21:12 -17), Mark ( 11:15 ) và Luke ( 19:45 ) thì lại xảy ra lúc cuối. Trong một đêm ở Jerusalem , Nicodemus (người Phasisee giàu có, thành viên hội đồng Sanhedrin) chận hỏi Jésus về Nước Trời, ngài đáp: “Thiên Chúa yêu thương trần gian nên sai con một xuống thế không để trừng phạt mà để cứu rỗi. Ai tin sẽ được sống đời đời”. Theo sử gia Josephus, có lẽ đây là Nicodemus ben Gurion của Tk 1-AD; còn theo sách Talmud, đó là Nakdinon ben Gurion phiên âm Hy ngữ mà ra.

 Nổi tiếng sau khi chữa lành một trẻ bệnh sắp chết ở làng chài Capernaum, nay Jésus không ở Nazareth, cũng không làm thợ mộc nữa mà chỉ đi giảng đạo. Jésus tự nhận mình là Con Thiên Chúa cả ba lần nơi công chúng: một lần ở Jerusalem , một lần nói với Nicodemus và lần kia ở đền thờ Nazareth . Vào một buổi chiều mùa hè năm 27-AD ở Capernaum , Galilée; thấy Simon và anh em ông là Andrew không bắt được con cá nào suốt đêm qua đành vào bờ lo không có tiền đóng thuế, Jésus đến tìm họ và mời cùng ngài đi giảng đạo; không phải để bắt lưới cá mà để bắt lưới “người”. Hai anh em vâng lời lại đem thuyền ra khơi và bắt được nhiều cá đến nỗi rách cả lưới. Thấy vậy Simon quỳ lạy Jésus và theo ngài từ đó. Theo luật, lươn và catfish là 2 loại cá không sạch nên không bị thuế; các loại cá khác bị đánh thuế trước khi chở đi muối và phơi khô ở Magdala rồi đóng thúng xuất cảng khắp đế quốc Roma. Jésus đặt lại tên cho Simon là Peter (nghĩa là “đá”), môn đệ đầu tiên. Đến năm 28-AD, Jésus chiêu mộ được 12 người, trong đó có 4 dân chài là Peter, Andrew, James và John là những người hiểu tiếng Aramaic, Hy, Hebrew và chút ít Latin. Tất cả đến từ Galilée ngoại trừ Judas đến từ Carioth (Iscariot theo Hy ngữ) phụ trách thủ quỹ của nhóm. Lợi tức đến từ các mạnh thường quân hâm mộ và trả ơn; tuy chẳng bao nhiêu cũng đã bị Judas lấy dùng riêng nhiều lần (Luke 8:2-3). Jésus xem Judas là bạn và cả nhóm là môn đệ (“apostle” từ Hy ngữ “apostello” mà ra nghĩa là “gởi đến”) hoặc “disciple” (người theo phụ). Sau khi Jésus tử nạn, những người còn sống sót chỉ được gọi là “apostle” khi đi giảng đạo bên ngoài Judea .
 Pilate và Herod Antipas theo dõi sát Jésus, tìm cớ để bắt ngài. Trong lúc đám đông có cả người Pharisees, Jésus giảng “tám mối phúc thật” (được truyền tụng là “bài giảng trên núi”) và dạy họ đọc kinh “Lạy Cha”. Khi trở về Capernaum , một sĩ quan Roma ở đây đã xin theo ngài. Ba tháng sau, một người Parisee tên Simon mời ngài đến nhà ông ta ở Magdala cách đó 4 dặm với mục đích gài bẫy cho ngài nói phạm luật. Tại đây, một gái điếm tên Mary Magdalena đến dùng dầu thơm và tóc để lau chân ngài và nhỏ những giọt nước mắt sám hối. Jésus trách chủ nhà đã không cho khách nước để uống và rửa chân; và nói với ông ta rằng “mọi tội của bà này đã được sạch” rồi quay sang bà mà nói “đức tin đã cứu ngươi; hãy ra về!”. Bà không được nhận làm môn đệ nhưng đã theo ngài đến cùng. Sự kiện này cho thấy Jésus có thẩm quyền tha tội. Được biết vào thời Chúa Jésus, nữ giới được tôn trọng và bình đẳng với nam giới; được chọn người phối ngẫu, ký giao kèo và bán tài sản. Do đó có nhiều tấm gương phụ nữ sáng chói: gái điếm Rehab giúp quân Israel đánh thắng trận Jericho , em gái Mariam giúp hai anh Moses và Aaron di dân Jews từ Ai-cập; và nhiều nữ anh hùng khác như Rachel, Sarah, Leah, Rebecca . . .

Phép lạ hóa nước thành rượu, người què được đi khiến dân chúng tìm kiếm Jésus khắp nơi. Người Pharisee xem việc chữa bệnh ngày Sabbath là phạm luật (Do-thái). Đã thế lại thêm tin Jésus hóa 5 bánh và 2 cá thành thức ăn đủ cho 5,000 dân hành hương tại vùng núi gần Bethsaida; dựng dậy một cô gái đã chết ở Capernaum; và các môn đệ kể rằng thấy Jésus đi bộ trên mặt nước biển Galilee giữa cơn bão sóng. Trong một dịp du hành hai ngày rời Galilée cùng các môn đệ đi Caesarea Philippi, Jésus cho họ biết Con Thiên Chúa sẽ bị giết và sẽ sống lại ba ngày sau. Trong khi các môn đệ đi Jerusalem dự lễ Tabernacles (Bánh Thánh), Jésus ở lại Galilée rao giảng “Ta là ánh sáng” rồi đi ngay Bethany để cứu sống một kẻ đã chết bốn ngày tên Lazarus.

Khi vị vua cuối của Israel là Zedekiad không nộp triều cống cho Nabuchadnaggar II, ông ta bị truất phế, móc mắt và đầy đi Babylon cùng toàn dân Jews làm nô lệ. Lợi dụng lỗ hổng quyền lực, các tăng lữ Pharisee từng được tôn kính suốt 6 thế kỷ mà đại diện là Caiaphas; nay vẽ thêm hàng trăm điều răn cấm vào 10 điều của Moses để nới rộng quyền hành. Họ lo sợ nếu để Jésus –năm nay 36 tuổi- lãnh đạo dân Do-thái và nổi loạn, quân Roma sẽ đến chiếm đóng Judea và lại đầy ải dân Israel như họ đã làm.

 Pilate đến Jerusalem hôm chủ nhật 2/4 năm 30-AD để dự lễ Passover (Vượt Qua). Cũng ngày này, Jésus cùng các môn đệ trên đường đến đây dự lễ đã ghé tạm trú tại nhà của Lazarus và hai bà chị em ông là Mary và Martha. Sáng hôm sau thứ hai 3/4, họ tới đền thánh, nơi mà ba năm trước Jésus đã dùng roi đánh đuổi con buôn; nay Jésus lại giận dữ lật bàn đổi tiền và các sạp bán buôn, thả chim bồ câu ra khỏi chuồng; rồi phán “Nhà Ta là nơi cầu nguyện vậy mà các ngươi biến nó thành ổ trộm cướp”! Giữa lúc đó, nhiều người đa số là trẻ em thán phục và kêu lên “Hosana con vua David”! Sau đó, Jésus và các môn đệ trở về Bethany bình yên. Hôm sau từ nhà Lazarus, họ mới đến Jerusalem dự lễ. Tại đây khi bị trưởng giáo chận hỏi về Nước Trời, Jésus bảo đó là “nơi nhiều người được mời nhưng chỉ ít người được chọn”. Cũng tại đây hôm đó lần chót giảng đạo, khi bị gài bẫy bằng câu hỏi có nên đóng thuế cho Caesar không, Jésus kêu một người đưa cho ngài đồng tiền có chân dung Caesar mà bảo “hãy trả lại Caesar những gì của Caesar, trả Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”! Khi bị chất vấn về điều 1 của 613 điều răn Pharisee, Jésus lập lại “thứ nhất kính mến Thiên Chúa hết lòng hết tâm trí” rồi thêm “và yêu người như chính mình vậy”.

Sau đó, Jésus lên núi Olives và cho các môn đệ biết mình sẽ bị nộp và bị đóng đinh; trong khi Caiaphas lập kế bắt Jésus vào thứ tư hoặc thứ năm để kịp bố trí phiên tòa ban ngày sau lễ Passover (và nếu có án tử thì kịp thi hành sau một đêm theo luật). Vì nhiều người để râu như Jésus, họ nhờ Judas chỉ điểm để khỏi bắt lầm. Hôm 4/4, trong khi Jésus và 11 môn đệ còn trong nhà Lazarus, Judas lẩn đi Jerusalem ; đến thẳng dinh Caiaphas ra giá “ông cho tôi cái gì để đánh đổi?” Caiaphas trả lời “30 đồng (bằng) bạc (# 120 Derarii = 4 tháng lương). Sau khi nhận tiền, Judas về Bethany ; vừa đi vừa nghĩ cách viện lý do vắng mặt và tìm nơi giấu tiền. Judas không báo cho Caiaphas nơi trú ngụ nhà Lazarus; sợ dân hành hương can thiệp cứu Jésus.

 Đến ngày lễ Passover, gia đình Caiaphas có sẵn đàn chiên nuôi trong đền để ăn thịt khỏi mua; còn gia đình Pilate chỉ xem bữa ăn lễ của bản xứ là một trong 3 bữa ăn thường nhật:ientaculum (điểm tâm), prandium (bữa trưa) và cana (bữa chiều). Jésus mừng lễ sớm hơn một ngày. Matthew, Mark và Luke có thống nhất đề cập về chi tiết này nhưng về món ăn vẫn còn gây tranh cãi; không rõ thịt chiên hay thịt trừu. Khi còn tại chức, ĐGH Benedict XVI đã giải quyết tranh cãi này như sau: Jésus dùng dương lịch (Dead Sea Scrolls) nênkhông ăn thịt chiên. Các học giả khác đoan quyết rằng khoa Syncoptics đặt lịch theo phương pháp Galilée (mà Jésus, môn đệ và dân Pharisee dùng); tính một ngày từ bình minh này đến bình minh kia. Trong khi đó, John (môn đệ trẻ nhất) dùng lịch theo phương pháp địa phương Judea mà dân Sadducees dùng; tính một ngày từ mặt trời lặn này đến mặt trời lặn kia.

 Tại phòng ăn do mạnh thường quân thuê, Jésus dùng nước lau chân cho các môn đệ, một cử chỉ khiêm cung chỉ để các nô bộc hay nô lệ làm. Jésus biết rõ tánh ý từng người: Simon cuồng tín, mê chính trị. Peter bốc đồng. James và John ồn ào (Mark 3:16 -17). Thomas gay cấn, căng thẳng, đa nghi và thường âu sầu ủ rũ. Andrew niềm nở. Philip hậm hực ..vv… Trong bữa ăn cuối cùng này, Jésus tiết lộ “một trong các ngươi sẽ phản ta”. Thế là ai cũng nhao nhao lên “không phải tôi!”. Jésus nói thêm “một trong 12 các ngươi giá đừng sinh ra đời thì tốt hơn!”. Peter run rẩy nhắc John (ngồi cạnh Jésus) hỏi xem là ai. Chỉ đến khi Judas hỏi “phải tôi không?”, Jésus mới thầm thì nói nhỏ “phải, chính ngươi; định làm gì thì cứ làm mau đi!”. Vì ngồi xa và vì ồn ào nên những người kia không nghe; tưởng Judas đứng dậy đi lấy thêm thức ăn khi chộp lấy túi tiền và rời khỏi phòng ăn; đi báo cho Caiaphas!

Hàng ngàn quân lính Roma từ Caesarea đến tăng cường an ninh cho lễ Passover ở Jerusalem; trong đó có 12 người của đội hành quyết chia làm ba nhóm, mỗi nhóm 4 người gọi là “quaternion”; người thứ 4 gọi là “exactor mortis” chỉ huy nhóm. Nhóm này có nhiệm vụ ngày mai vì có 3 tử tù thụ án; trong đó có Barabas, kẻ cướp giết người khét tiếng. Hai người kia là đồng bọn. Nơi thụ án đóng đinh là đồi Calvaria- tiếng Aramaic gọi là Gulgalta(phiên âm Hy ngữ là Golgotha ); tất cả đều nghĩa là “sọ người”! Tử tù sẽ bị đóng đinh vào thập tự giá bằng gỗ gọi là “patibulum”.

Lần chót cùng các môn đệ lên đồi Olives, Jésus cầu nguyện “xin cất chén đắng này; nhưng theo ý Cha”. Khi trở về vườn Gethsemane, Jésus thấy các môn đệ còn ngủ thì trách “sao các người không canh thức được lấy một giờ sao!” rồi đánh thức họ dậy trong lúc nhiều ánh đuốc đang tiến về từ phía thung lũng Kidron; dẫn đầu bởi Judas. Judas ra tín hiệu bằng cách ôm hôn Jésus vào má và lạnh lùng nói “chào Thầy!”. Jésus đáp “bạn hãy làm những gì bạn muốn”. Jésus hỏi đám lính “các ông tìm ai?”. Họ đáp “Jésus Nazareth”. Jésus đáp “chính là Ta đây!”. John chứng kiến thấy Peter rút gươm chém đứt tai của Malchus, đầy tớ của Caiaphas. Thấy thế, Jésus bảo Peter “hãy cất gươm vì ai dùng gươm sẽ chết vì gươm”. Jésus bị bắt; đi cùng Judas và binh lính về dinh cựu trưởng giáo Annas giữa giao thừa lễ Passover; bỏ lại các môn đệ sợ hãi và lẩn tránh. Tại dinh Annas hôm thứ sáu 7/4 năm 30-AD, Jésus bị tra tấn đau nhưng vẫn khẳng khái hỏi Annas “nếu tôi nói sai, hãy cho biết sai điều gì; mà nếu tôi nói sự thật thì sao lại đánh tôi?”, “tôi nói công khai không bí mật sao lại hỏi tôi. Hãy hỏi những người đã nghe tôi nói”. Cuộc khảo cung này bất hợp pháp vì diễn ra ban đêm, tại nhà riêng và không luật sư bênh vực. Việc điệu Jésus đến hội đồng Sanhedrin xét xử cũng bất hợp pháp.

Annas là cha vợ của Caiaphas, dòng dõi Zadobite tăng lữ lâu đời từ thời vua David. Quân Pompey khi chiếm Jerusalem đã tàn sát các dòng họ tăng lữ khác trừ Zadobite. Herod đã tái cử dòng họ này làm trưởng giáo từ đó. Con của Annas sau bị dân Jews nghèo khổ nổi loạn giết chết giữa thành Jerusalem .

 Khi hay tin Jésus bị bắt, nhiều người đến tụ tập trước cổng dinh. Hai môn đệ Peter và John can đảm đến đó nghe ngóng (John 18:15 ). Jésus không trả lời các câu tra vấn của Caiaphas như “ông có phải là Đấng Cứu Thế không? Có nói sẽ phá đền thờ và xây lại trong 3 ngày không?”. Cuối cùng, Jésus xác nhận mình là Con Thiên Chúa “như lời đã hỏi” và nhìn thẳng vào mắt Caiaphas mà bảo “ông sẽ thấy Con Người ngự bên phải Đấng Toàn Năng trên chốn Thiên đình”.

Jésus bị tuyên án tử về tội “lộng ngôn” xúc phạm. Tại tòa, chỉ có hai người dám bênh vực ngài là Nicodemus và Joseph ở Arimethea người Sadducee giàu có. Khoảng 7 giờ sáng, Jésus bị điệu ngang doanh trại lính gọi là “stratopedon”; cũng là lúc Caiaphas đến gặp Thống đốc Pilate, người có quyền ra án tử. Pilate từ chối giam giữ Jésus và truyền giao ngài cho Herod Antipas, người cai quản vùng lãnh thổ bao gồm Galilée. Antipas biết ý, gởi trả Jésus lại cho Pilate như một cử chỉ đề cao quyền lực của nhau vì họ từng là đối thủ chính trị đã lâu. Pilate bất đắc dĩ phải nhận xử vụ này và hỏi Jésus “phải ông là vua Do-thái?”. Jésus hỏi lại “đó là ý riêng của ông hay ai đã nói với ông như thế?”. Pilate hỏi “thế ông đã làm gì?”. Jésus trả lời “Vương quốc của tôi không thuộc cõi thế này; bằng không hầu cận tôi đã không để tôi bị bắt đem nộp ông. Vương quốc của tôi ở một cõi khác”. Pilate: -Thế ra ông từng là vua?”. Jésus: -Ông nói đúng. Tôi là vua vì đó là lý do tôi được sinh ra và vì vậy tôi xuống thế để khai sự thật. Mọi người bên phía sự thật đều nghe tôi”. Pilate: -sự thật gì?”. Jésus không trả lời.

 Pilate biết rằng nổi loạn chống Roma mới là tội hình sự; còn giảng đạo thì không; nên lợi dụng dịp lễ để mị dân; đưa quyết định ân xá cho đám người bên ngoài pháp đình (mà ông tưởng là dân hành hương) quyết định. Ông hỏi họ: -Các người muốn ta thả vua dân Do-thái không? Đám tay chân của Caiaphas đồng thanh hô to: -Thả Barabas! Pilate biết Jésus vô tội nên xử theo “verberatio” (đánh) và tuyên bố “các ông giao cho tôi người đàn ông bị cáo buộc tội xúi giục nổi loạn. Cả Herod cũng trả người này cho ta là vậy. Như các ông thấy, người này không đáng tội chết; vì vậy ta chỉ phạt đánh rồi thả”. Sau đó, Jesus bị lột quần áo và lôi vào sân “praetorium”(sân dinh Tổng trấn). Khoảng từ 8 giờ sáng đến 3 giờ chiều ngày 7/4 năm 30-AD ở thượng nguồn Jerusalem, Jésus bị trói vào cột; bị đánh bằng roi có gắn “plumbatae” (thỏi chì) thay vì gắn thỏi kim loại hay xương trừu; và cũng không đánh 39 roi theo luật “40 trừ 1” của Moses.

Sau hình phạt, Jésus bị dẫn về nhà tù và bị bọn lính tinh nghịch gắn “triều thiên” kết bằng gai và “trượng vua” bằng cành cây để làm trò chế giễu và phỉ nhổ. Pilate truyền dẫn Jésus lại tòa hồi 9 giờ sáng và nói với các tăng lữ: -“đây là vua các người!”; thế rồi họ đồng thanh hô “đem đi đóng đinh!”. Pilate: -“liệu ta đóng đinh vua các ngươi?”. Người dẫn đầu đám người ấy trả lời một cách nịnh bợ: -“không ai là vua ngoại trừ Caesar!”. Pilate cố hỏi họ để gỡ tội cho Jésus: -“ông ta phạm tội gì?”. Họ không trả lời mà chỉ hô to: -đóng định y!Pilate sai đem chậu nước đến; rửa tay và bảo “ta không dính máu người này; trách nhiệm ở nơi các người!”. Tuy thế, Pilate là người chịu trách nhiệm vì theo luật Roma, ông ta có quyền “ius gladii” (quyền cây gươm).

 Thập tự giá bằng gỗ gọi là “patibulum” nặng chừng 50-70 pounds, dài không đầy 6 feet được xốc lên vai tội nhân để đem lên đồi Golgotha cách đó ½ dặm. Pilate đích thân viết bằng than vào bảng ghi tội danh đóng vào thánh giá “Jesus Nazareth: Vua Do-thái”. Caiaphas đòi đổi bảng khác nhưng Pilate không cho. Viên “exactor mortis” (đội trưởng) e tử tội chết trước khi đến pháp trường nên nhờ một tín đồ hành hương người Jews gốc Phi châu tên Simon ở Cyrene , Libya vác thay. Mark viết rằng người này là “cha của Alexandre và Rufus”- các tên gọi phổ thông thời tiền sử TCG -mà Paul đã gặp gỡ (Romans 16:13 ). Đến nơi, Jésus bị đè xuống và đóng đinh vào thánh giá khiến ngài rên la vì đau đớn. Bọn lính không định đóng một kệ đỡ dưới mông (để chịu sức nặng của tội nhân khi dựng thánh giá lên cao); cũng không đóng miếng đỡ dưới bàn chân tội nhân vì dự định cho tội nhân chết mau hơn trong ngày Sabbath thay vì để tội nhân chết lần mòn qua ngày khác như các trường hợp trước đó. Tại pháp trường có Mary, mẹ ngài và bà Mary Magdelene. Trong khi chờ tội nhân chết, bọn lính uống rượu chua. Khi nghe Jésus rên “tôi khát nước” thì một lính lấy giẻ thấm rượu đưa lên cho ngài nhấm. Nhấm xong, Jésus nói “mọi sự đã xong” rồi bất tỉnh và tắt thở ở tuổi 36. Viên “exactor mortis” dùng giáo đâm vào xác ngài ngay tim để máu trào ra; một lối chứng tử thời đó. Kinh Thánh không đề cập đến tên người đội trưởng này nhưng có sử liệu ghi là Longinus, người đã hối cải và nhập đạo.

Chiếc giáo gọi là “holy lance” rất linh thiêng. Nghe nói Adolf Hitler đã cầm nó. Sau thế chiến II, Tướng Mỹ George Patton đã lấy chiếc giáo này trả nó về cho dinh Hofburg ở Vienna , Áo quốc. Hiện nó là bảo vật của viện bảo tàng hoàng gia Áo. Các xứ Armenia , Antioch và Poland cũng tuyên bố có chiếc giáo này (?).
Và vì là dịp Sabbath, thay vì để xác tử tội chết rữa hay cho cầm thú rỉa thịt như mọi khi, lính Roma nhổ đinh khiêng xác ngài xuống; định đem chôn trong nghĩa địa dành cho phạm nhân hình sự; nhưng họ đã cho Joseph ở Arimathea và Nicodemus người Pharisee nhận xác đem chôn trong nghĩa địa tư của gia đình Joseph. Theo luật Do-thái, xác được xem xét 3 ngày sau khi chôn và cửa mồ được mở vào chủ nhật.

Caiaphas nhắc Pilate cho lính gác cửa mồ vì Jésus đã bảo sẽ sống lại sau 3 ngày; và cũng để canh chừng đám đệ tử ngài có thể đến trộm xác để chứng minh điều ấy. Ba ngày sau, tối hôm chủ nhật 9/4 năm 30-AD, bà Magdalene và một bà tên Mary (khác với Mary, mẹ ngài- một tên thông dụng thời ấy) đến viếng mộ và viếng cả cây thánh giá. Bà định tìm người nhờ lăn phiến đá cửa mộ nhưng lạ thay; đã thấy nó nằm hẳn sang một bên tự bao giờ! Xác Jésus cũng biến mất; chỉ còn vải liệm. Kinh Thánh viết rằng Jésus đã xuất hiện 12 lần trong 40 ngày sau khi sống lại; trước một người hoặc trước đám đông có lần lên đến 500 người tại một ngọn núi ở Galilée. Một phần tư thế kỷ sau đó, Paul có nhắc sự kiện này trong thư viết gởi Corinthans.
Sáu thế kỷ sau, hình tượng “thánh giá” mới trở thành biểu tượng của đức tin Thiên Chúa Giáo. Sau một thời gian trốn tránh, các môn đệ đã ra mặt đi truyền đạo khắp nơi. Năm 44-AD, cháu vua Herod là Herod Arrippa cai trị Judea lúc đó ra lệnh chém đầu James, vị thánh tử đạo đầu tiên. Herod cũng bắt giam Peter rồi thả không rõ nguyên do. Peter sau đi Rome truyền đạo rồi bị đóng đinh ngược đầu xuống đất khoảng năm 64-67-AD; chôn ở nơi nay là Vatican . Andrew truyền đạo ở Nga , Ukraine và Hy-lạp; bị đóng đinh ở Petra , Hy-lạp. Thomas bị đâm chết gần Madras , Ấn-độ. Bartholomeo truyền đạo ở Ai-cập, Arabia và Iran ; bị chết chém ở Ấn-độ. Simon bị cưa đứt người làm hai ở Persia . Philip truyền đạo ở Turkey ; bị giết rồi treo ngược ở Hierapolis . Matthew có lẽ bị giết ở Ethiopia . Các môn đệ khác có lẽ cũng cùng chung số phận ở các nơi khác. John bị người Roma bắt đày ra đảo Patmos ở Hy-lạp. Tại đó, ông viết Kinh Thánh đoạn chót của Tân Ước rồi mất vào năm 100-AD ở Ephasus , Turkey ở tuổi 94; môn đệ duy nhất không tử đạo.

 Theo Matthew, Judas Iscariot tự tử chết (treo cổ trên cành cây) nhưng cũng có sử liệu ghi ông ta dùng cương ngựa tự bẻ cổ chết. Mary Magdelene có lẽ ở trong số đàn bà mà (đoạn Acts 1:14 ) đề cập; được ơn Chúa Thánh Linh tại Pentecost. Mary, mẹ của ngài không được đề cập về chung sự cho đến ngày 1/11/1950 hồi thế kỷ XX, khi GHCG tuyên cáo “Mẹ hồn xác lên trời”. ĐGH Pius XII ra sắc chỉ viết “Đức Mary đã hoàn tất sứ mệnh đầu đời; đã cả hồn lẫn xác lên trời vẻ vang”.

Về phần nhà cầm quyền thời đó, 6 năm sau vụ án, Pilate lại phải xử một vụ án  tương tự mà bị cáo phạm tội truyền đạo là người Samarit ở vùng núi Gerizim. Pilate hồi đó cho lính đàn áp gây nhiều chết chóc nên bị triệu hồi về Roma. Sau khi vua Tiberius 77 tuổi chết, Pilate bị buộc tự sát. Có sử liệu ghi ông nhảy sông Rhone gần Vienne tự tử. Nay vẫn còn đài kỷ niệm có tên gọi là “Mộ Pilate”. Sử liệu khác ghi ông chết trong hồ nước gần Lausanna ở Thụy-sĩ; nay có tên “Mount Pilatus ”. Có tin đồn ông và vợ Claudia sau nhập đạo rồi bị giết (?). Có thể vì thế mà hai GHCG Coptic và Ethiopia đã phong thánh tử đạo cho ông! Caligula 24 tuổi lên ngôi; làm vua 4 năm rồi bị ám sát chết. Claudius và Nero lần lượt nối ngôi sau đó. Bốn trăm năm sau, năm 476-AD, đế quốc Roma bị đánh bại bởi người Germanic nhưng dân Rome lại bỏ tà thần mà theo đạo Chúa. GHCG được Edict de Milan công nhận ở đây năm 313-AD. Theo thống kê 2013 của Gallup Poll, hiện nay có 2.2 tỷ người trên thế giới (77% tại Hoa Kỳ) là tín đồ theo chủ thuyết của giáo chủ Jésus: “Tình yêu thương, niềm hy vọng và sự thật”.

Caiaphas lắm kẻ thù nên bị mất chức. Không rõ cái chết của ông ta nhưng hồi 1990 có người tìm thấy chum chứa cốt ông ta ở Jerusalem . Chum cốt này hiện được trưng bày ở viện bảo tàng Israel . Herod Antipas bị Caligula đày đi Gaul ; sau đoàn tụ với vợ Herodius ở Lugdunum; nay là Lyon , Pháp quốc. Dân Jews sau lại nổi lên chống Roma hồi năm 66-AD. Năm 70-AD, bốn đạo quân Roma đóng ở núi Olives đã chận không cho khoảng từ 600,000-1,000,000 tín đồ hành hương rời Jerusalem ; giết vô số rồi bắt làm nô lệ số người sống sót. Đền thánh bị tiêu hủy vĩnh viễn cho đến nay. Vụ nổi dậy năm 132-AD có tên “Bar Kochba” khiến vua Hadrian phải trục xuất dân Jews đi Ai-cập, Bắc Phi và châu Âu; trong số đó có 600,000 bị giết. Năm 1948, quân Jordan đuổi giết dân Jews mới trở về cố quốc từ các nơi đó. Ngày 10/6/1967 trong trận chiến “Sáu Ngày”, quân Israel của Moshe Dayan đã chiếm lại được Jerusalem sau hơn 2,000 năm bị mất!

 Quả đây là một tài liệu lịch sử mới nhất (xuất bản năm 2013); được cập nhật hóa để trở thành một quyển cẩm nang Triết học, Sử học và cẩm nang Kinh Thánh quý báu; giúp mọi người, nhất là độc giả Việt ngữ không phân biệt tín ngưỡng “ôn cố tri tân”: Đoạn “Tại dinh Annas hôm thứ sáu 7/4 năm 30-AD, Jésus bị tra tấn nhưng vẫn khẳng khái hỏi Annas “nếu tôi nói sai, hãy cho biết sai điều gì; mà nếu tôi nói sự thật thì sao lại đánh tôi?”, “tôi nói công khai không bí mật sao lại hỏi tôi. Hãy hỏi những người đã nghe tôi nói”. Cuộc khảo cung này bất hợp pháp vì diễn ra ban đêm, tại nhà riêng và không luật sư bênh vực; cả việc điệu Jésus đến hội đồng Sanhedrin xét xử cũng bất hợp pháp theo luật Do-thái” (trang 226) . Điều đáng nhớ là Annas, Caiaphas và Pilate đã chết hẳn; đế quốc Roma đã sụp đổ vĩnh viễn nhưng Jésus đã sống lại cùng với triết thuyết nhân ái của ngài!


HÀ BẮC