Wednesday, May 27, 2015

Tôi bị móc túi ở ‘Kinh Thành Ánh Sáng’‏

Buổi sáng Thứ Sáu lướt báo, mẩu tin “Tháp Eiffel đóng cửa vì nhân viên phản đối nạn móc túi” làm tôi chú ý. Đọc chưa được mấy hàng, khi tim nhói lên, tôi mới biết dư âm của việc chính mình là nạn nhân của nạn móc túi tại thành phố này cách đây chưa hai tuần, vẫn chưa nguôi ngoai.



Tình trạng người chen chúc nhau đứng chờ xe điện ngầm tại Paris là
cơ hội bằng vàng cho những tay móc túi chuyên nghiệp. Paris đứng
hàng thứ 5 trong danh sách 10 thành phố có nạn móc túi 
cao nhất thế giới. (Hình: Miguel Medina/AFP/Getty Images)

Chưa thể nguôi ngoai thì cũng đúng thôi. Ai phải từng bị móc túi, mới hiểu được rằng việc bị kẻ gian móc túi, lấy mất đồ, không chỉ làm nạn nhân mất đi những đồ vật có thể mua lại được bằng tiền, nhưng còn bị lấy mất đi cảm giác hồn nhiên, an toàn, ở một thành phố hoàn toàn xa lạ.
Buổi trưa hôm ấy, tôi và Thao, cậu con trai đi cùng, hân hoan bước ra khỏi trạm Metro ở gần dòng sông Seine, gần chiếc cầu pont de Bir-Hakeim, xuất hiện trong phim “Inception” mà Thao rất mê, nên muốn đến xem cho bằng được. Vừa vui vì sau giấc ngủ vùi tiếp theo chuyến bay dài mười mấy tiếng, đây là buổi rong chơi đầu tiên của chúng tôi ở thành phố này. Vui vì được nơi mình muốn đến, và vui hơn nữa vì chúng tôi hãnh diện đã nhìn bản đồ metro, tự đưa mình đến đích, mà không phải tốn tiền leo lên những chuyến xe buýt hop-on hop-off lúc nào cũng chật đầy du khách.
Mẹ máy quay phim, con máy ảnh, chúng tôi vừa đi vừa trầm trồ vì trước cảnh đẹp trước mặt. Cầu pont de Bir-Hakeim dài hút mắt, dòng nước lững lờ, bầu trời trong xanh lấp lánh những sợi nắng nhẹ. Dưới cầu, một hàng thuyền bè đủ màu sắc neo dọc theo bờ. Chúng tôi dự định ngắm cảnh ở đây một lát rồi từ từ đi bộ đến chân tháp Eiffel.
Niềm vui chỉ kéo dài trong khoảng khắc. Đang bước đi, tôi bỗng giật mình nhận ra chiếc xách tay mình vẫn đeo ngang vai nhẹ đi một cách khác thường. Nhìn xuống, một ngăn của túi xách đã bị mở toang, chiếc samsung tablet với những bản đồ, sách hướng dẫn du lịch Paris mà tôi đã cẩn thận tải xuống máy trước chuyến đi, đã biến mất.
Tim đập loạn xạ. Tôi kêu lên:
“Thao! Thôi chết rồi, mẹ bị móc túi rồi. Mất cái tablet rồi.”
Thao từ xa chạy lại, nhìn tôi chưa tin:
“Mất cái gì, mẹ mất cái gì? Mẹ có chắc là mang đi không? Sao họ móc túi mẹ mà mẹ không biết?” Thao dồn dập hỏi.
Không trả lời, tôi nhìn xuống một ngăn khác. Chiếc zipper đã bị kéo toang ra, để lộ passport, vài thẻ tín dụng, và một ít tiền gấp nhỏ lại, giấu phía sau các vé đi metro.
May quá, passport, tiền và thẻ tín dụng vẫn còn nguyên đây. Tôi bớt hốt hoảng, nhưng tim vẫn cứ đập thình thịch trong lồng ngực. Đưa chiếc túi xách cho Thao, tôi đứng vịn vào một thành cầu, không đi nổi nữa.



Hình chụp một cảnh móc túi đang diễn ra, đăng trên website của 
một blogger chuyên viết về du lịch. (Hình: 
www.clevertravelcompanion.com)
 “Nếu mẹ mang tablet đi thì mất thật rồi.” Thao lật qua lật lại chiếc túi sách, rồi chép miệng.
“Mà bị móc túi từ lúc nào, sao mẹ lại không biết?” Thao hỏi đi hỏi lại như chưa chấp nhận được thực tại. Như nếu Thao biết được chính xác là tài sản của tôi đã bị đánh cắp từ lúc nào, thì sẽ cảm thấy an toàn hơn ở thành phố mà chúng tôi đã háo hức muốn đến thăm, khám phá. 
“Nếu biết lúc nào bị, thì đâu có ai gọi là móc túi.” Tôi đáp.
“Chắc mẹ bị lúc mình ở trên metro rồi. Lúc đó đông quá. Thôi mình về lại khách sạn đi, biết đâu mẹ sẽ thấy là tablet còn nằm ở phòng,” Thao đề nghị.
“Chắc 100% là đã mất rồi. Lúc nãy ngồi trong metro mẹ còn lấy nó ra xem bản đồ mà.” Tôi cả quyết, rồi suy nghĩ thật nhanh. Từ khách sạn chúng tôi đã phải chuyển metro mấy lần mới đến được đây. Về ngay bây giờ thì uổng quá. Trời hôm nay đẹp, không mưa lướt thướt như hôm qua, lúc máy bay chúng tôi đáp cánh.
“Thôi mình cứ đi tiếp đi, về khách sạn thì cái gì mất, cũng đã mất rồi.” Tôi thẫn thờ.
Nhìn tôi, Thao ái ngại, “Are you sure? Thôi mình về khách sạn đi mẹ. You don't look OK. Con thì mất hứng đi rồi.”
Ừ, mà chắc phải về khách sạn thật. Tôi chợt nghĩ đến cái app chứa đầy passwords của mọi tài khoản, nhà băng, thẻ tín dụng, email, tất cả những dữ liệu quan trọng, nằm trong tablet vừa bị đánh cắp đó mà lạnh người.
Nếu kẻ cắp mà phá được password của tablet và mở được cái app này, thì cái tôi sẽ bị đánh cắp là danh tánh, và chuyện mất tablet suy ra, sẽ là chuyện rất nhỏ.
“Ừ mình về lẹ đi. Mình đàng nào cũng phải cất passports đi, và mẹ phải thay một số passwords.” Tôi đồng ý.
Chúng tôi thiểu não theo nhau đi trở lại hướng vào metro. Thao bảo, “Từ giờ mẹ luôn luôn phải đi trước con nhe!” Tôi đi trong tâm trạng hốt hoảng tận cùng mà chỉ trước đây ít phút khó hình dung ra được. Tim đập mạnh theo từng bậc thang đưa xuống chỗ đón xe, với tôi giờ đây metro là nơi đồng nghĩa với sự mai phục đầy nguy hiểm.
Lên được metro rồi, chúng tôi ngồi dựa vào nhau trên băng ghế như hai kẻ bại trận. Tôi suy nghĩ miên man. Tâm trạng an vui, thanh thản của một người du lịch hoàn toàn biến mất. Từ đây về khách sạn mất một tiếng hai mươi phút. Nếu kẻ cắp phá được password trên tablet của tôi trong vòng thời gian này, thì nguy cơ bị đánh cắp danh tánh của tôi sẽ tăng lên. Cuộc chạy đua của người tự vệ và kẻ tấn công bắt đầu. 


Bảng cảnh cáo coi chừng móc túi treo ở một cánh cổng 
tòa nhà gần tháp Eiffel. (Hình: 
www.clevertravelcompanion.com)

Xe lao đi vun vút. Tại mỗi trạm ngừng, khi có hành khách lên, xuống, đi gần đến ghế của mình, tôi lại đưa tay ôm khư khư lấy chiếc túi xách giờ luôn đeo trước mặt, nhìn những người bước qua bằng đôi mắt e dè.
Tại một trạm ngừng, một đám đông kéo nhau lên xe. Một chàng nhạc sĩ lang thang leo lên xe vừa đánh đàn vừa hát, đi đến từng hàng ghế chào hỏi. Nhạc hay mà giọng hát thì khá ấm. Nhưng tôi không còn tâm trí nào để thưởng thức. Tôi ôm chặt thêm lấy chiếc túi xách của mình khi chàng ta bước ngang qua. Hình như có một người nào đó vừa cố tình đụng vào tôi? Tôi nhìn người bước qua bằng cặp mắt nghi kỵ. Đúng là một mất mười ngờ. Giờ này người nào quanh mình cũng có thể là người móc túi.
I hate Paris. Tôi nói thầm, rồi lại nghĩ đến cái tablet đã là người bạn đồng hành của mình trong một thời gian dài, những chuyến đi chơi, và nhiều chuyến đi công tác. Điều oái oăm là trong mọi sách du lịch Âu Châu mà tôi tải xuống, cuốn nào cũng cảnh cáo là du khách đến Paris phải hết sức cảnh giác để khỏi bị móc túi, vì dân móc túi ở đây thuộc vào hạng chuyên nghiệp nhất thế giới.
Một tài liệu cẩn thận liệt ra danh sách 10 thành phố mà nạn móc túi hoành hành nhất thế giới. Trong đó, Barcelona, nơi tôi sẽ đi kế tiếp. đứng hàng đầu, Paris đứng hàng thứ 5, và Hà Nội đứng thứ 10. Tài liệu khác đưa ra con số đáng ngại: Một ngày tại Paris có đến hàng ngàn vụ móc túi. Tệ hơn thế, cảnh sát Paris như bất lực trước tệ nạn này, không giúp gì được du khách ngoài việc treo những tấm bảng với hàng chữ “coi chừng móc túi!”
Vẫn biết như thế, nhưng tôi, những cũng giống như nhiều người vô tư khác, không ngờ mình sẽ có ngày trở thành một con số trong thống kê này.
Về đến khách sạn, Thao mở safe bỏ passport của chúng tôi vào khóa lại. Thật đúng là mất bò mới lo làm chuồng. Trong khi tôi mở lab top lo đổi password, Thao xem lại tất cả những khúc phim do chiếc Gopro tôi đeo trên người tự động thu.
Chỉ vào một khúc phim, Thao nói, “Đây, chỗ này, thấy có một người thoáng đi gần vào người mẹ, rồi vượt qua, nhưng không thấy rõ mặt, mà cũng không thấy tay ông ta cầm gì hết. Để con xem lại xem.”
“Thôi chắc là bị lúc ở trên metro rồi. Lúc đó chen chúc ghê quá!” Xem hết những khúc phim, Thao kết luận.
Tôi hiểu nhu cầu cần phải tìm ra lúc nào mình bị mất cắp của Thao. Tìm ra được thì có lẽ thể rút kinh nghiệm, có thể ngăn ngừa được. Còn nếu mất mà không biết mình bị lúc nào thì sẽ cứ hoang mang mãi, và không biết phải phòng ngừa làm sao.
Nhưng tôi đang có việc cấp bách hơn phải lo. Vừa nhìn đồng hồ vừa đổi passwords, vừa lo ghi chú. Tôi đang gấp rút chạy đua với thời gian, không thể để cho kẻ cắp kia làm mình bị tổn hại gì thêm nữa.
Khi tôi vừa xong việc thì cũng là lúc Thao, nãy giờ lúi húi với trang Google, ngẩng lên nói, “Theo thống kê thì kẻ gian phải mất trung bình khoảng hai tiếng mới crack được password của cell phôn hay tablet, nhưng đa số họ tìm cách reset trước khi đem đi bán. Và nếu họ reset thì sẽ không đọc được gì của mẹ.”
Sửa xong được password của email và tài khoản Samsung, tôi vào để đọc email, thì nhận ngay được một thông báo từ tài khoản Samsung, cho biết samsung tablet của mình vừa được cài đặt một app mới, cả tên app lẫn những hàng chữ giới thiệu app toàn bằng tiếng Tàu. Tôi và con đọc không hiểu gì cả.
“Ghê thật, tụi nó đã vào được tablet của mẹ rồi.” Thao nói.
Tôi nhìn đồng hồ. Gần hai giờ đồng hồ sau khi bị móc túi. Nhưng cũng may, việc đổi passwords tạm xong rồi. Tôi thấy tạm yên tâm, đề nghị, “Mẹ xong việc rồi, mình đi tiếp nhé!”
“Thôi, chắc hôm nay mình ở nhà đi quanh quẩn ở quanh đây. Con vẫn đang bị 'traumatized' lắm. Mà mẹ chắc cũng chưa OK đâu!” Thao nói.
Traumatize! Bị tổn thương. Đúng rồi. Thao dùng chữ chính xác lắm. Sự tổn thương vượt qua mọi giá trị vật chất của những thứ bị đánh cắp. Cái tôi mất đi là mất cái cảm giác an toàn, là sứt mẻ chút thiện cảm trước giờ vẫn dành cho một thành phố nguy nga tráng lệ, nơi được mệnh danh là “Kinh Thành Ánh Sáng.”
Nắng chiều, qua rèm cửa sổ của khách sạn, đang len lỏi vào phòng. Buổi tối thứ hai ở Paris sắp trôi đi.
Hà Giang

Thursday, March 19, 2015

Tiệm phở Việt lạc lõng giữa 'làng Đan Mạch'

Solvang, Danish City, California – Một thành phố nhỏ yên bình, cổ kính với những ngôi nhà mái nhọn theo kiểu Bắc Âu, những con đường ngắn với hai hàng cây thẳng tắp dọc bên đường, những cối xay gió to cao...hình ảnh này tưởng chỉ còn trong cổ tích. Thế nhưng, không những không phải cổ tích, mà ở ngôi 'làng Đan Mạch' chỉ vỏn vẹn hơn 5 ngàn người này còn có cả một...quán phở do người Việt làm chủ.

Bảng hiệu bên ngoài tiệm Phở 805. (Hình: Kalynh/Người Việt)
Sau hơn 3 giờ chạy xe dọc theo con đường 101 bên núi, bên biển, thị trấn Solvang hiện ra như một làng quê Đan Mạch của thế kỷ 18. Những con đường nhỏ cắt ngang nhau, đủ rộng để du khách vừa đi vừa thưởng lãm và săn ảnh. Thỉnh thoảng, vài cỗ xe ngựa lọc cọc trên phố, lững thững dừng lại nơi có 'stop sign' ở ngã tư theo đúng luật đi đường. Có điều khác rằng nhiệm vụ của những chú ngựa này nhằm để chở du khách đi vòng quanh ngôi làng Solvang.
Chúng tôi mất hơn một giờ để đi vòng quanh những ngôi nhà và cửa tiệm gỗ nhiều màu sắc, đẹp như một bảng màu pha. Mỗi cửa tiệm là một phong cách trang trí khác nhau. Nhưng tựu trung vẫn toát lên được một nét rất Solvang. Ví dụ như những bảng hiệu đều được làm bằng gỗ, hoặc từ sắt rồi bẻ cong rất nghệ thuật. Những chậu hoa trước mỗi cửa tiệm đều có chung vẻ đẹp đơn sơ. Những bộ bàn ghế đặt trật tự trên lề đường không thể làm vướng chân du khách...
Hình như tất cả đều tuân theo một phong cách thẩm mỹ tên Solvang!
Những ngôi nhà nhiều màu sắc trong thành phố Solvang. (Hình: Kalynh/Người Việt)
Đang say sưa đứng nhìn chiếc cối xay gió màu trắng trên cao, có những cánh quạt bằng gỗ sơn đỏ, chúng tôi chợt dừng mắt nơi một bảng hiệu trắng, có dòng chữ xanh lá quen thuộc, quen đến độ mà chỉ cần 1/1000 giây thoáng qua cũng đủ nhận ra đó là gì: Phở.
Phở 805 – Vietnamese Cuisine.
Hình như tất cả như vẫn còn rất mới. Vì ngay phía sau cánh cửa ra vào là một quán bar vẫn còn đang xây dựng dở dang. Chúng tôi cảm thấy thích thú với cách “mời chào” đặc biệt của quán phở này, đó là trên bậc thang bước lên lầu ngay sát bên quầy bar, là dòng chữ viết bằng phấn trắng: “Welcome to Pho 805.” (Xin mời đến với tiệm Phở 805.)
Dòng chữ trên bậc thang dẫn lên tiệm phở. (Hình: Kalynh/Người Việt)
Vừa bước lên được vài bước, lời đón tiếp từ trên lầu vọng xuống: “Xin chào quý khách.”
Rõ là tiệm rất mới đây thôi. Những bình hoa đặt dọc theo quầy tiếp tân thể hiện ngày khai trương quán cách đây không lâu.
Chọn ngay chiếc bàn ở vị trí đẹp nhất của quán, chúng tôi nhìn thành phố Solvang từ trên cao.
Nơi ngồi đẹp nhất trong quán Phở 805. (Hình: Kalynh/Người Việt)
  
“Tiệm mới mở cách đây sáu tháng. Tôi từ San Jose xuống đây, chọn nơi này để mở quán.” Chi Huỳnh, người cất lời chào chúng tôi, cũng chính là người chủ của quán Phở 805 cho biết.

“Hồi đó tôi 'quậy' lắm, ăn và chơi thôi. Gia đình gọi tôi là 'hàng hiệu CK' đó, là Chi khùng đó,” Chi Huỳnh vừa nói vừa cười sảng khoái.
“Bây giờ thì khác rồi. Tôi muốn làm ăn, coi như làm lại cuộc đời. Cho nên gia đình, người thân ủng hộ và giúp đỡ tôi mở nhà hàng này. Tôi không phải xuất thân là dân nhà hàng. Tôi chỉ thích nấu ăn. Rồi khi có ý định kinh doanh, tôi học hỏi thêm để quyết định mở nhà hàng.”
Giữa ngôi làng Đan Mạch cổ kính với những dãy nhà hàng, cửa tiệm sang trọng mang đậm chất vương giả, tiệm phở 805 của “CK” Chi Huỳnh vẫn không lạc lõng. Có lẽ cô đủ tinh tế để nhận ra rằng “nhập gia” thì “tùy tục.” Cô chăm chút quán phở của mình với thiết kế vừa mang nét Việt Nam, vừa không làm mất đi vẻ đẹp chung của Solvang.
Hỏi Chi Huỳnh vì sao cô “can đảm” mang món ăn được đưa tạp chí Condé Nast Traveler bình chọn là một trong 10 món ăn Việt ngon nhất nước Mỹ vào “đấu trường du lịch” Solvang cổ kính này?
“Món phở của người Việt nổi tiếng từ xưa đến giờ. Ở Mỹ này ai cũng biết, từ người Mỹ, đến người Mexico và những người châu Á khác. Mình phải giới thiệu món ngon của mình đến mọi người nhiều hơn chứ.” Lời giải thích của cô chủ quán “tay ngang” đơn giản nhưng rất chí tình.
Thực đơn của Phở 805 cũng đơn giản như thế. Nhà hàng chỉ có ba món ăn chính là phở, cơm và bún. Với cô, “đơn giản thôi, không phức tạp, nhưng mình làm hết sức mình.”
Cô cho biết mình vui nhất là khi khách ăn, họ khen món ăn của cô ngon. Và khổ nhất là có những bữa khách ào vào một lúc thật đông, không kịp xoay sở.
Chúng tôi được cô chủ quán chính tay nấu cho tô phở đặc biệt.
“Ở thành phố Solvang này, tìm được rau quế thơm và tươi như thế này không phải dễ. Thứ ba mỗi tuần, tiệm đóng cửa, tôi chạy về San Jose để mua những thực phẩm cần thiết. Mỗi tối, sau khi hết khách, tôi lại chuẩn bị nồi phở mới, hầm xương cho mềm và ngọt nước.” Chi Huỳnh nói về cách cô làm việc.
Đặc biệt, Phở 805 có phục vụ cà phê pha phin truyền thống của người Việt.
Chi Huỳnh, chủ nhân của Phở 805 pha cà phê phin cho khách. (Hình: Kalynh/Người Việt)
“Mỗi chiều, ngồi tại bàn này, uống ly cà phê nóng và nhìn mặt trời lặn ngoài cửa sổ, còn gì tuyệt vời hơn đúng không?” Chi vừa nói vừa chỉ cho chúng tôi thấy ráng chiều đang đậu ngoài cửa sổ.
Cô cho biết khách của tiệm vừa có người Á đông, vừa có người Mỹ và cả những sắc tộc khác. Có lẽ tiệm phở của cô nằm trong một thành phố du lịch nổi tiếng, vừa cổ kính, vừa đa văn hóa nên cô phải nêm nếm sao cho hài hòa với khẩu vị của mọi thực khách.
“Tuy không mang đậm chất phở truyền thống quen thuộc của Hà Nội, nhưng chắc chắn sẽ làm hài lòng du khách của vùng Solvang,” chúng tôi nghĩ như thế khi thấy có hai nhóm khách bước vào, và họ gọi ngay món phở.
Cảm mến cô chủ quán vui tính, và cũng muốn những người khách kia yêu quán Phở 805 này hơn, chúng tôi vội đứng lên để nhường chỗ ngồi đẹp nhất trong tiệm cho khách bạn.
“Người Việt mình tốt với nhau quá,” Chi nói.
Ngôi làng Solvang trong ráng chiều. (Hình: Kalynh/Người Việt)
Chúng tôi rời khỏi quán và tạm biệt Solvang. Mặt trời chỉ còn là một màu vàng dịu khuất phía sau những ngôi nhà gỗ. Những con đường nhỏ cũng rực đèn. Tiệm Phở 805 của người Việt duy nhất của thành phố Solvang luôn đón chờ tất cả đồng hương nếu có dịp đến ngôi làng Đan Mạch cổ kính này. 

Tuesday, March 10, 2015

Tai Vạ Không Tránh Được

Chồng tôi, anh Erik Landemalm gắt gỏng nói với tôi: “Anh không thích cái việc đó.”. Tôi trả lời anh: “Em cũng đâu có muốn, nhưng em không còn chọn lựa nào khác.”. Cả anh Erik lẫn tôi đều nghĩ rằng đi đến tỉnh Galkayo, Somalia vào lúc này là điều không nên làm. Đây là một thị trấn nhỏ chỉ cách khu vực Green Line nguy hiểm một đoạn đường ngắn. Green Line là vùng ngăn cách giữa một bên là lãnh thổ do chính phủ kiểm soát, và bên kia là khu vực bị các nhóm quân khủng bố Hồi Giáo hung dữ kiểm soát. Nhưng tôi đang làm nhân viên cứu trợ cho một tổ chức phi chính phủ (NGO), và tổ chức này muốn gửi tôi đến để lập một văn phòng ở đó.
 
Tôi bắt đầu cuộc đời đi làm thiện nguyện trong vùng Phi châu từ năm 2006, với tư cách là cô giáo dạy học ở Kenya. Tại đây tôi gặp anh Erik. Anh là người Thụy Điển đến Phi châu với mục đích thám hiểm, và du lịch.  Chúng tôi thành hôn năm 2009, và dọn về sống ở tỉnh Hargelsa, Somalia. Tôi làm việc cho một tổ chức phi chính phủ của nước Đan Mạch. Tôi có nhiệm vụ dạy cho người dân ở đây cách né tránh bãi mìn, những trái mìn chưa nổ còn chôn trong lòng đất. Đây là một tai hoạ làm cho nhiều người bị cụt chân.
 
Nhưng đi làm việc từ thiện không có nghĩa là chúng tôi được che chở, bảo vệ, thoát khỏi những tình huống bạo động, và giết chóc. Chiến tranh giữa các bộ lạc đang hoành hành khắp miền Nam nước Somalia. Gần đây nhất, một chiếc xe chở hành khách trên tuyến đường chúng tôi thường hay đi, bị giật mìn nổ tung. Chúng tôi cũng rất sợ nạn cướp bóc xảy ra cho chúng tôi. Người Da Trắng Tây phương thường là những mục tiêu để bọn ăn cướp giật đi một ít tiền nóng. Nhưng chúng tôi hết sức thận trọng trong việc đi lại, chỉ đi khi nào có việc cần thiết, và được bảo vệ an ninh cẩn thận.
 
Anh Erik nói với tôi: “Thôi em cứ đi đi. Làm cho xong việc thật nhanh rồi về lại đây.”. Anh dang hai tay ra ôm lấy tôi thật chặt, và quay người tôi một vòng. Tôi vẫn thường đi đến những vùng nguy hiểm, nhưng lần này, anh tỏ ra đặc biệt lo ngại, vì hình như tôi đang có thai. Chúng tôi hy vọng sẽ có đưá con đầu lòng. 
 
NGÀY 24 THÁNG 10 NĂM 2011,  tôi đáp chuyến máy bay của Liên Hiệp Quốc đi đến tỉnh Galkayo. Ở đây tôi sẽ gặp một đồng nghiệp của tôi, anh Poul Thisted, người Đan Mạch và một vài nhân viên phụ trách an ninh. Chúng tôi nghỉ đêm tại nhà khách của tổ chức Phi Chính Phủ, nằm ở phía bắc khu vực Green Line. Tôi nhận được lời nhắn của anh Erik: “Anh yêu em. Ráng giữ mình nghe em.”.
 
Sáng hôm sau, anh Poul và tôi cùng tham dự khoá huấn luyện tại văn phòng của t ổchức. Sau đó, tôi gửi một text message cho Erik: “Em đang đau bụng vì bị hành kinh. Có lẽ mình đoán sai về vụ em có thai. Tôi để lần sau, ráng cố gắng làm lại.”.
 
Trước khi Erik kịp trả lời thì xe của đến đón chúng tôi để đưa chúng tôi trở lại nhà khách. Ông Abdirizak, quản lý phụ trách an ninh leo lên ngồi phía sau chiếc Land Cruiser, trong lúc anh Poul leo lên ngồi phía trước, cạnh tài xế. Tôi nhận ra anh tài xế này là người mới. Lẽ thường tôi phải hỏi vì sao lại đổi tài xế. Nhưng anh Poul không tỏ ý gì quan ngại cả. Vì thế tôi cũng im lặng, không lên tiếng hỏi.
 
Mười phút sau, giống hệt như khi nghe trọng tài thổi kèn tu huýt bắt đầu trận đá bóng, cuộc tấn công khởi sự. Một chiếc xe lớn gầm thét tiến về phía trước để chặn đầu xe của chúng tôi. Xe chúng tôi phải thắng gấp để ngừng lại, khiến cho bùn văng tung toé lên mặt kính xe. Một đám người Somali ôm súng AK-47 vây quanh chúng tôi, họ gõ báng súng vào cửa xe, và la hét om xòm.
 
Hai tên giựt cửa xe mở tung ra, và nhảy vào trong xe. Một tên sau này tôi biết tên của nó là Ali, nắm lấy ông Abdirazak, lôi ông ra ngoài. Mặt của Ali mang những nét ghê rợn, vừa xấu xí vì đầy mụn, vừa dữ tợn vì đôi mắt đỏ ngầu, chứng tỏ hắn nhai rất nhiều lá “khat”, một loại lá gây kích thích, giống như ma túy.
 
Ali chĩa súng vào đầu tôi. Tài xế lái xe, không hiểu hắn có làm việc cho bọn khủng bố Somali hay không, vội vàng đóng xập cửa xe lại, và bỏ chạy mất. Chúng tôi bị nhốt cứng trong xe. Ali và đồng bọn, hươi súng lên trước mặt chúng tôi, rồi hắn hét bằng tiếng Anh: “Mobile!”. Nó muốn hỏi điện thoại để ở đâu.
 
Sau khi lấy điện thoại của chúng tôi, Ali  leo lên phía trước ngồi, và bảo anh Poul ngồi ở băng ghế sau. Tôi nhìn chòng chọc vào anh Poul và hỏi nhỏ anh: “Chuyện gì xảy ra vậy?”. Anh nói: “Chúng mình bị bắt cóc rồi.”.
Mấy tên trên xe vội quát vào mặt anh Poul, bảo anh câm miệng lại, và chiếc xe phóng đi vào bóng tối, cánh cửa xe rung  mạnh vì gặp phải đoạn đường gồ ghề. 
 
“TIỀN ĐÂU!”  Ali hét to lên, anh Poul nói không có tiền. May sao, bọn chúng không lục soát người chúng tôi. Tôi nhớ lại những lời dặn của huấn luyện viên trong khoá học vừa rồi. Họ dạy chúng tôi phải làm gì khi bị bắt làm con tin. Ông ta dặn chúng tôi phải tuyệt đối giữ bình tĩnh, đừng biểu lộ sự tức giận. Chọc giận bọn giặc trong lúc chúng đang hung hăng, hứng chí có thể khiến chúng giết mình một cách oan uổng.  Chưa chắc chúng dự tính sẽ giết mình. Huấn luyện viên dặn chúng tôi phải nhớ thuộc lòng số điện thoại của người thân để mình có thể liên lạc được. Đó là “bằng chứng của sự sống” khi người nhà nhận đuợc điện thoại của mình. Cách duy nhất để giúp bạn sống sót trong trường hợp bị bắt cóc là phải có số điện thoại để liên lạc khi kẻ bắt cóc đòi tiền chuộc.Tôi không bao giờ quên được số điện thoại của chồng tôi, anh Erik.
 
Cho đến lúc này, chúng tôi chưa nhận được tín hiệu gì về ý đồ của bọn bắt cóc. Chúng tôi không biết họ là ai, thuộc phe nào, và bọn chúng sẽ đưa chúng tôi đi đâu. Tôi và anh Poul chỉ còn biết trao đổi với nhau những tia nhìn sợ hãi, lo âu.
 
Bọn bắt cóc chúng tôi đeo vũ khí đầy trên người, những băng đạn dài được chúng khoác lên vai trông thật đáng sợ. Mỗi khi chúng thay xe, hay đổi tài xế, đạn trên người chúng nhảy tưng lên trông phát sợ. Chúng tiếp tục lái xe đi mãi trong bóng tôi, đi hoài. Tôi ngủ gà ngủ gật vì chán nản, chẳng biết làm gì. Bỗng dưng, xe ngưng lại, và Ali ra lệnh cho chúng tôi phải bước ra khỏi xe.
 
Hắn hét lên: “Đi ra” và tay hắn chỉ vào con đường mòn trước mặt.
 
Nói xong, nó dậm mạnh chân bước đi. Nó không đi theo chúng tôi. Một nhóm người khác tiếp tục thay thế Ali, và ra lệnh cho chúng tôi đi theo. Tôi chịu không nổi, tôi nhìn thẳng vào mặt một tên, và hỏi: “Tại sao đi hoài vậy.”.
 
Bụng tôi quặn đau. Tôi từ chối không đi nữa, trong lúc chúng gào thét bắt tôi đi tiếp. Đưá nào cũng có đôi mắt sưng vù, và đỏ mọng vì nhai nhiều lá “khat”.
 
Anh Poul nhẹ nhàng nắm tay tôi, kéo tôi đi, anh nói nhỏ với tôi: “Jessica, Không sao đâu. Mình phải làm theo lệnh của chúng thôi.”.
 
Tôi thì thầm nói với anh: “Không! Cùng lắm thì chúng nó giết mình.”
 
Anh năn nỉ tôi: “Jessica, trừ phi mình hợp tác với chúng, nếu không chúng sẽ giết mình.”.
 
Tôi đảo mắt ngó quanh, nhìn lũ người đang uy hiếp chúng tôi. Tôi cảm thấy tuyệt vọng, và không còn gì gọ là an toàn nữa. Khi chúng tôi phải cúi đầu đi theo bọn người bắt chúng tôi. Tôi bật miệng khóc và nói với anh Poul: “Tôi còn trẻ quá, sao họ nỡ giết tôi.”. Anh nhìn tôi trân trân, không nói gì, và tiếp tục bước đi.
 
Bọn chúng dẫn chúng tôi đi qua rất nhiều bụi cây, sâu tuốt vào bên trong. Trời ban đêm bắt đầu trở lạnh, tôi cảm thấy rùng mình. Anh Poul đi bên cạnh tôi, nhưng chúng tôi bị cấm nói chuyện. Đôi xăng đan tôi mang trên bàn chân trở nên cứng ngắc vì đạp phải nhiều bụi gai, và đất sình. 
 
Tôi không thể nín lặng được nữa, tôi khóc tức tưởi, rấm rứt, không thành tiếng. Cuối cùng chúng tôi cũng đi đến được điạ điểm phải tới. Thế là xong, đến nơi rồi.
 
Bọn bắt cóc ra lệnh chúng tôi qùi gối xuống, xây lưng lại phía chúng.
 
Tôi lâm râm cầu nguyện, nghĩ rằng chúng sẽ bắn mình chết. Nhưng không, chúng ra lệnh cho chúng tôi: “Ngủ đi.”
 
Hai chữ “ngủ đi” nghe sung sướng làm sao. Trong giây phút chúng tôi quên đi sự nguy hiểm, và muốn cảm ơn bọn bắt cóc đã cho chúng tôi ngủ. Đây là một dịp nghỉ ngơi để lấy lại sức. Bọn chúng đã ban phước lành cho chúng tôi.
 
SÁNG HÔM SAU, KHI MẶT TRỜI VỪA LÓ DẠNG, tôi mới biết mình còn sống. Tôi cảm thấy tươi tỉnh, vui trong lòng một chút, thay vì uể oài, biếng nhác vì thiếu nghỉ ngơi. Bọn bắt cóc dẫn chúng tôi đến một chòi lá, xung quanh có nhiều cây keo. Ngay ỡ giữa là một ụ đất khá lớn do mối vun lên thành  gò đất. Anh Poul ra hiệu cho tôi nên tìm cách nhớ kỹ cảnh vật xung quanh. Chúng tôi ra dấu, nói chuyện theo lối người câm, xin phép chúng cho liên lạc với tổ chức Phi Chính Phủ (NGO) của chúng tôi. Lời đề nghị của bị từ chối, nhưng rồi có một tên đứng ngoài sau lên tiếng nói rằng phải chờ lệnh của “Ngài Chủ Tịch”. Chẳng biết tên đó là ai, nhưng khi thấy chúng gọi y là Ngài Chủ Tịch, tức là theo hệ thống tổ chức kinh doanh, không phải theo lối “giáo sĩ” là chúng tôi mừng.
 
Tôi xin phép được đi vệ sinh, và được chúng miễn cưỡng cho đi, với những lời lầm bầm chửi ruả. Tôi lựa một bụi cây ở thật xa, hẻo lánh, dõi mắt quan sát xem có đứa nào đi theo hay không. Tôi nhìn thật kỹ, và thấy có một con đường đi. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ chạy trốn? Nhưng chạy đi đâu bây giờ? Tôi đang ở một nơi hoang vắng, không giấy tờ tùy thân, và không có tiền trong túi. Bất cứ mưu toan chạy trốn nào rồi cũng sẽ thất bại, và bị bắt lại.
 
Sau khi đi vệ sinh, quanh trở lại lều tạm trú, một gã tự giới thiệu mình là Abdi. Hắn nói được một chút tiếng Anh, và bảo đảm với tôi rằng chúng sẽ không giết tôi. Chúng muốn tiền chuộc, một số tiền thật lớn. Sau vài lần nhắm mắt ngủ được một chút, và nhiều lần xin đi vệ sinh không bị quấy rầy, tôi cảm thấy dễ chịu phần nào. Điều Abdi hứa không giết chúng tôi có lẽ là đúng, ít ra là vào lúc này.
 
Chúng tôi tiếp tục ở trong căn nhà tranh dưới bóng cây keo. Buổi tối chúng tôi phải nằm ngủ trên chiếc chiếu ngoài sân cỏ.
 
Được ít lâu, chúng tôi lại di chuyển. Chúng tôi đến chỗ mới, một trạm dừng chân để nghỉ lại vài ngày. Trạm nghỉ này là một lều tranh khá lớn, bao quanh một cây cột thật cao. Abdi đóng vai trò đội trưởng. Hắn giữ nhiệm vụ đôn đốc đàn em  hoàn thành công việc được giao phó. Abdi thích nói chuyện, nói nhiều lắm, nhất là sau khi nhai lá “khat”. Nhưng hắn có cái tật cọc cằn, và thay đổi tánh tình bất chợt. Có lúc hắn say sưa thảo luận về triết lý, rồi ngay sau đó, hắn trở mặt la hét, chửi rủa thô tục trong điện thoại khi cần ra lệnh, hay khi đòi thuốc lá, và lá “khat” để nhai.
 
Tôi khát nước, có lẽ trong miệng tôi có đầy đất cát. Mỗi ngày chúng tôi chỉ được một chai nước nhỏ. Anh Poul đòi cho thêm nước. Đòi mãi, anh bị một tên bảo vệ chửi rủa thậm tệ, bắt anh im miệng lại. Một lúc sau, tên lính bảo vệ mang cây súng trường đến gần anh. Nó kéo cơ bẩm, bóp cò súng. May thay súng không có đạn.
VÀI NGÀY SAU, MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG LỚN TUỔI TÊN LÀ  Jabreel đến đây. Hắn nói tiếng Anh, và tự giới thiệu mình là “thông dịch viên trung lập” từ thủ đô Mogadishu đến đây. Hắn nói với chúng tôi: “Mấy thằng này điên. Chúng nó đòi tiền chuộc $45 triệu mới thả hai người ra.”
 
Tôi trả lời hắn: “Không có ai chịu trả $45 triệu để chuộc hai nhân viên cứu trợ.”.
 
Hắn phân trần: “Tôi đến đây để giúp giải quyết vấn đề. Tôi nói với chúng là tối đa chúng chỉ có thể lấy được $900,000 mà thôi.”.
 
Khi trời xập tối, cái tên gọi là “Ngài Chủ Tịch” đến nơi. Trông hắn vào khoảng ngoài 40 tuổi, với một ít râu trên mặt. Hắn bàn luận với Jabreel vài câu. Sau đó tên này ra lệnh cho chúng tôi: “Gọi điện thoại.”.
 
Cuối cùng thì chúng tôi cũng liên lạc được với người nhà qua điện thoại, gọi là “bằng chứng con tin còn sống.”. Tôi theo dõi Jabreel bấm số điện thoại, và thấy mã số quốc gia gọi là Kenya. Tôi nghe một người xưng danh là Mohammed. Jabreel đưa điện thoại cho tôi trả lời, và người đó nói rằng ông ta là trợ lý cố vấn an ninh. Ông hỏi tôi vài câu để kiểm tra an ninh, chẳng hạn như con chó đầu tiên của tôi tên là gì. Chỉ có bấy nhiêu thôi. Sau đó, Jabreel giật lấy chiếc điện thoại trong tay tôi, và dành nói chuyện với Mohammed, y muốn biết chắc là Mohammed đang làm việc cho cơ quan Phi Chính Phủ.
 
Tôi rất mừng được liên lạc với thân nhân để cho họ biết tôi còn sống. Nhưng tôi ngạc nhiên người nói chuyện với tôi không phải là anh Erik. Sau lần nói chuyện ngắn ngủi, chúng tôi lại bị luà vào trong trại, rồi dẫn ra ngoài cánh đồng. Đến cuối ngày, khi những tên bảo vệ dơ cao súng lên, bắn thị uy, chúng tôi lại trở về trại, đi ngủ theo lệnh.
 
Qua ngày hôm sau, tên Jabreel nói với chúng tôi rằng bọn chúng đang lo vì có lẽ máy bay trên cao, và vệ tinh đang theo dõi chúng. Tôi nói: “Bọn tao chỉ là nhân viên cứu trợ, không ai dùng máy bay, hay vệ tinh để tìm kiếm làm gì.”.
 
Cứ như vậy, ngày nào cũng như nhau, sáng sớm chúng tôi bị lôi dậy, nằm ngồi lê lết dưới bóng cây keo, đến tối thì ngủ ngoài trời sa mạc. Tôi bị nhiễm trùng đường tiểu. Với kiểu ăn uống chung một cái chén, cái tô, bốc bằng tay, tôi bị đau bụng, tiêu chảy. Luân phiên khi thì đi tiêu chảy, khi thì ói mửa. Tôi đòi bọn chúng phải kiếm bác sĩ cho tôi. Tôi khóc vì đau bụng, và mệt lả. Bọn chúng bực mình, rất ghét khi nghe tôi khóc. Chúng hét lớn bảo tôi im miệng lại. cuối cùng, chúng cũng tìm cho tôi một bác sĩ. Người bác sĩ này chỉ khám sơ qua, và ném cho tôi vài viên thuốc, sau đó, hắn đi nhai lá “khat” với tên Jabreel. 
 
Một buổi sáng, tên Abdi từ bên ngoài vào trại. Hắn la hét om xòm trong điện thoại. Hắn chọn một cây gậy lớn, và đánh anh Poul. Nó bắt anh nằm xuống đất, tiếp tục đánh.
 
Tôi nghe tên Abdi vừa vung cây gậy đánh anh vừa hỏi: “Số tiền lớn đâu? Sao không có?”.
 
Anh Poul phân trần: “Đó không phải là lỗi của tôi.”.
 
Nó vung gậy quất vào người anh Poul trong lúc bắt anh nằm dang chân dang tay  ở dưới đất. Anh Poul hét lớn đòi nó ngưng đánh. Trong lúc đó, tôi cũng nức nở khóc vì bực tức. Tên Abdi trông thấy nét khổ sở tên mặt tôi, nhưng như thường lệ, sự đau khổ đó không làm cho chúng mủi lòng, thương hại. Thay vào đó, nó dậm chân và bước đến phía tôi, tay vung cây gậy lên, và nói: “Còn mày nữa. Đứng dậy. Đi Đi.”.
 
Tôi đứng dậy bước đi. Thằng Abdi bước theo và hét lớn: “Tiền chuộc mạng cho chúng mày đâu?”.
 
Tôi ráng trả lời trong không khí im lặng, căng thẳng: “Tao không biết. Poul cũng không biết. Chúng mày có đánh chết, bọn tao cũng không biết.”.
 
Nó chặn tôi lại, và ấn tôi ngồi xuống. Kế đến, nó ngồi xổm, kê sát mặt tôi, hỏi: “Tiền chuộc đâu?”. Nó nhìn thẳng vào mắt tôi, và viết con số 18 trên mặt đất bằng ngón tay. Nó giải thích: “Trong vòng bẩy ngày, phải đưa bọn tao $18 triệu nếu không chúng mày sẽ bị chặt đầu.”.
 
Một hôm, chúng đem hai đứa tôi ra bãi sa mạc để thu hình video. Hai thằng lính gác ôm súng trường đứng hai bên. Chúng buộc anh Poul phải nói trong video là cả hai chúng tôi đều mạnh khoẻ, bình an. Và anh phải lên tiếng yêu cầu đừng tấn công chúng bằng binh lính. Sau đó, anh Poul năn nỉ gia đình nên thu xếp tiền bạc để chuộc cho anh. Mặc dù anh biết gia đình anh không có đủ số tiền đó.
 
Cũng vào khoảng thời gian này, tên Jabreel liên lạc với chồng tôi. Nó đưa chiếc điện thoại cho tôi để tôi nói chuyện. Tôi nói: “Đây là Jessica.” Vừa nói tôi vừa thở mạnh vì hồi hộp. 
 
Đầu dây bên kia, tiếng anh Erik nói: “Đây là Erik, Jess Em có khoẻ không?” Anh cố gắng nói hết ý của anh trong một thời gian ngắn.
 
Tôi trả lời: “Em cũng OK.” Tôi năn nỉ anh nên chọn Mohammed làm ngưoời trung gian thương lượng cho hai gia đình, và nói với tên Abdi rằng họ đang cố gắng tìm cách thu xếp số tiền chuộc. Sau đó, tôi nói với tên Jabreel đi tìm Abdi cho tôi.
 
Tôi nói với anh Erik còn ở trên dây điện thoại: “Tên thủ lãnh của chúng sắp đến nói chuyện với anh để anh nghe về điều kiện của bọn chúng. Nhưng trước khi nó đến, em muốn nhắn với anh là em yêu anh nhiều lắm.”.
Tôi nghe tiếng anh nghẹn ngào nói: “Anh cũng yêu em nhiều.”
 
Tôi dặn anh: “Em sẽ cố gắng vượt qua khó khăn này.”
 
Anh vắn tắt nói với tôi: “Tốt lắm, Jess.”. Hình như anh đang ở trong căn phòng có khá đông người.
 
Abdi đi vào, cầm điện thoại nói chuyện, mắt nó sưng mọng vì nhai nhiều lá “khat”. Trong khi đó, tên Jabreel nói với anh Erik: “Tôi không phải là người trong tổ chức, tôi chỉ làm theo lệnh của họ.”.
 
Sau đó, tên Abdi nói chuyện với anh Erik. Anh hứa với nó rằng gia đình sẽ làm đúng theo kết quả thương thuyết của Mohammed. Anh nói lớn vào trong máy điện thoại: “Jessica, anh cầu nguyện cho em được an toàn, và anh sẽ làm đủ mọi cách để đem em và anh Poul trở về.”.
 
Tên Jabreel cắt điện thoại. Thế là xong.
 
SAU LẦN NÓI CHUYỆN BẰNG ĐIỆN THOẠI,  bọn bắt cóc tách rời anh Poul xa khỏi tôi. Từ đó, tên Jabreel bắt đầu dở trò xàm sỡ, đòi sờ mó, tấn công tình dục đối với tôi. Tôi nói với nó: “Đừng làm như vậy Jabreel. Tao có chồng và mày cũng đã có vợ.”. Nhưng cũng từ lúc đó, tôi phải tìm cách xa lánh tên này, kẻ duy nhất giúp tôi phiên dịch sang tiếng  Anh khi cần nói chuyện. Nó biết tôi muốn né tránh, nhưng càng ngày nó càng thèm muốn lại gần tôi. Một hôm khi thức dậy, tôi đã thấy nó nằm ngay bên cạnh. Tay của nó đang mò mẫm trong tấm mền tôi đắp, rờ vào chân tôi. Tôi đẩy tay nó ra, và xoay mình trở ngược lại.
 
Tôi mơ màng mình được về nhà với anh Erik. Đầu óc tôi miên man nghĩ đến căn phòng của chúng tôi, đến anh Erik, anh đang mong tôi trở về. Giây phút mơ màng đó chợt đến, rồi chợt đi. Nhưng thực tế trước mắt là tôi không có ai giúp đỡ cả.
 
HAI TUẦN SAU, CHÚNG ĐEM ANH POUL TRỞ VỀ TRẠI. Không một lời giải thích. Anh ở đó một ngày, tôi vội vàng hỏi thăm anh chuyện gì đã xảy ra, nhưng rất khó cho chúng tôi nói chuyện trước mặt những tên bắt cóc chúng tôi.
 
Một hôm chúng tôi nghe có tiếng ù ù từ xa, mãi tận trên không trung rất cao. Chúng tôi không thấy gì cả, nhưng những tên bắt cóc cứ nhất định bắt chúng tôi phải trốn dưới tàng cây.
 
Một buổi tối, tôi mở mắt nhìn vào bóng đêm. Trời ban đêm tối đen như mực, không trăng sao, và có bóng hỏa mù che khuất những tia sáng le lói của ánh sao đêm. Lúc đó vào khoảng 2 giờ sáng. Đúng giờ này tôi thường đi ra bụi cây để đi vệ sinh. Vì bị nhiễm trùng đường tiểu, nên ban đêm tôi thường phải thức dậy để đi tiểu. Tôi đứng dậy, và nói khẽ: “Toilet.”. Tôi phải xin phép mới được bước ra khỏi chiếu của mình.
 
Không một ai trả lời tôi. Tôi đứng lặng yên, nín thở, lắng nghe. Tôi nghe tên lính gác đang ngủ, chúng ngáy rất lớn. Tôi nói lớn hơn một chút: “Ê tụi bay! Nghe tao nói gì không? Tao muốn đi tiểu.”.
 
Không một tiếng trả lời. Có lẽ chúng không nghe, hay chẳng thèm để ý.
 
Tôi đi một mình ra bụi cây gần nhất. Lúc đó chỉ có một mình tôi, thật bình yên. Bóng đêm như đang che chở cho tôi. Tôi chợt nẩy ra ý nghĩ chạy trốn. Tôi thấy sức khoẻ đã khá hơn, nhưng thỉnh thoảng vẫn đau quặn ở dưới bụng. Chạy trốn ư? Phải rồi, nên chạy trốn đi mới được. 
 
Tôi quanh trở lại chiếc chiếu, đặt mình nhẹ nhàng nằm xuống, cong người như con tôm.
 
Tiếng động nghe như tiếng cành cây gẫy, làm tôi thức giấc. Không chừng đó là tiếng kêu của thú vật, hay là một nhánh cây khô bị gió thổi làm gãy xuống. Nhưng rồi sao lạ quá, hết nhánh cây này gẫy lại đến nhánh cây khác. Chuyện gì đang xảy ra ở ngoài kia?Tôi đang mơ ngủ, hay là tỉnh? Cứ mỗi lần tôi tỉnh trí là lại nghe tiếng nhánh cây gẫy. Rồi tôi nghe như tiếng chim chút chit, nhón mình ra khỏi tổ. Ngay sau đó, tôi nghe tiếng động mạnh ở cạnh chiếu tôi nằm.
 
Bọn lính Somali lập tức nhảy nhỏm dậy, và chúng kéo cơ bẩm súng, lên đạn sẵn sàng. Một khoảng im lặng kéo dài khá lâu, sau đó thì tiếng súng nổi lên dòn dã. Cuộc đấu súng quyết liệt xảy ra ở tứ phía. Chắc là tôi đã la hét lớn lắm, nhưng tiếng hét của tôi bị tiếng súng nổ lấn át. Hay là một bộ tộc khác đến đây đánh nhau với bọn này để dành giật chúng tôi, lấy tiền chuộc mạng? Tôi lâm râm cầu nguyện Thượng Đế, và nhắn gửi thương yêu của tôi đến anh Erik.
 
Tôi nghe tiếng bọn khủng bố Somali la hét ra lệnh cho nhau, rồi tôi nghe tiếng đạn xé tan không gian im lặng, và tiếng người hực lên trước khi chết. Tôi nghe có người kêu: “Trời ơi.” Và y thở hắt ra trước khi chết.
Một bàn tay mạnh mẽ nắm lấy tấm mền của tôi. Tôi tìm cách cưỡng lại. Nhưng rồi một giọng đàn ông gọi tên tôi: “Jessica.”
 
Tôi giật mình tỉnh rụi, như có người vừa tát vào mặt tôi. Một người nói giọng Mỹ?
 
Bóng đêm đen tối che dấu những khuôn mặt người lạ. Trông họ như những bóng ma, với vũ khí cực mạnh. Tôi không tin những người này đến đây để cứu tôi. Vì thế tôi dùng hết sức bình sinh để kháng cự lại. Dù biết rằng mình có thể bị giết, nhưng tôi bất cần, tôi chống lại theo bản năng. Sau đó tôi nghe họ nói:
 
“Jessica! Đây là quân đội Mỹ. Cô được gỉải cứu rồi. Chúng tôi sẽ đem cô về nhà.”.
 
Ngày 25 tháng Giêng năm 2012, bằng mệnh lệnh của Tổng thống Barack Obama, 24 chiến sĩ Biệt Kích US Navy SEAL được biệt phái thực hiện chuyến nhảy dù đánh đột kích vào nước Somalia, giết chết một số tên bắt cóc, và giải cứu được cô Jessica Buchanan và anh Poul Thisted bằng máy bay trực thăng.
 
Nguyễn Minh Tâm

Nơi phụ nữ được quyền qua đêm với tất cả đàn ông họ thích

Các cô gái khi vào độ tuổi trưởng thành (thường là 13) sẽ có một căn phòng riêng tại nhà. Đây là nơi mà các cô gái có thể mời bất kỳ người đàn ông mình thích về qua đêm.

Đó chính là phụ nữ người Mosuo - một bộ tộc thiểu số sống ở gần vùng hồ Lugu, thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.  Nơi đây có khoảng 40.000 người Mosuo sinh sống nằm giáp hai tỉnh Vân Nam và Tứ Xuyên, gần biên giới Tây Tạng. Đây là bộ tộc duy trì chế độ mẫu hệ hiếm hoi trên thế giới có lịch sử hơn 2000 năm.
Các cô gái khi vào độ tuổi trưởng thành (thường là 13) sẽ có một căn phòng riêng tại nhà. Đây là nơi mà các cô gái có thể mời bất kỳ người đàn ông mình thích về qua đêm. Sáng hôm sau, cả hai lại đường ai nấy đi và cuộc sống của họ vào ban ngày và đêm là hoàn toàn khác biệt. 
 
Khi một đứa trẻ được sinh ra, chúng sẽ được toàn bộ gia đình bên ngoại nuôi dưỡng, người cha sẽ không phải cấp dưỡng cho đứa con của mình, cũng không cần phải chăm sóc hay sống cùng chúng. Các chú bên mẹ sẽ làm nhiệm vụ thay người cha dạy dỗ đứa trẻ.
 
Do quan điểm độc đáo này, nên người Mosuo không hề có khái niệm trọng nam khinh nữ hay con ngoài giá thú. Với họ, con nào cũng như nhau và chẳng ai bận tâm xem cha của đứa trẻ là ai. Hàng ngày, họ cùng nhau lao động, kiếm sống và vui chơi giải trí trong các ngày rảnh rỗi và không ai thích bàn tán về cuộc sống của người khác.
 
Họ khẳng định gia đình là mối quan tâm hàng đầu của mọi người. Các đôi trai gái khi đến với nhau không phải vì tiền bạc, áp lực gia đình hay các vấn đề nào khác. Họ đơn giản chỉ vì cảm mến nhau và đến với nhau hoàn toàn vì tình yêu.
 
Trong các cuộc giao lưu, nếu ưng ý cô gái nào các chàng trai có thể đến chạm tay và mời nhảy. Nếu cô gái đó cũng thích, họ sẽ chạm tay lại. Đây cũng là dịp để các cô gái chọn cho mình chàng trai để hẹn hò trong một đêm, một tháng hoặc một đời.
 
Hàng ngày, họ cùng nhau lao động, kiếm sống và vui chơi giải trí trong các ngày rảnh rỗi và không ai thích bàn tán về cuộc sống của người khác.

Friday, February 27, 2015

Tê Ngón Tay

Hội chứng đường hầm cổ tay
Những bài khác...
Chỉ căn cứ trên một triệu chứng là ngón tay tê buổi sáng thôi chúng ta không thể bàn chuyện gì cụ thể được. Ví dụ người đàn ông hay phụ nữ, tuỳ tuổi, phụ nữ dùng thuốc ngừa thai hay không, có những triệu chứng khác như lo âu, mệt mỏi, nóng sốt hay không, đau tay bên nào, có phải là bên dùng nhiều trong một loại động tác (như dùng phím máy vi tính liên tục, làm thợ nấu ăn dùng các ngón tay để nhồi bột, đàn piano, violin, làm bàn tay chịu stress lập đi lập lại (repetitive stress). Có những việc nặng nhọc hơn như dùng máy khoan, máy đào đường. Trong trường hợp stress dai dẳng trên bàn tay ngón tay, chúng ta có thể nghĩ đến hội chứng đường hầm cổ tay. Người đặt câu hỏi dùng facebook, qua mạng internet, nên tôi nghĩ sau đây chúng ta có thể bàn nhiều hơn về tổn thương do dùng quá nhiều các ngón tay ở giới trẻ, đặc biệt là do dùng phím máy tính (keyboard overuse injury).
Các ngón và bàn tay phần lớn được điều khiển bởi những cơ bắp có thân cơ nằm trong cánh tay (forearm, avant bras), tức là phần giữa cổ tay và khuỷu tay. Những sợi gân từ từ các cơ ở trên chui qua một đường hầm gọi là đường hầm cổ tay (carpal tunnel), rồi mới nối với các ngón tay. Lúc các cơ này co lại, thì các ngón tay cũng co theo (flexion of the fingers). Cùng trong hầm này, có một sợi dây thần kinh lớn (median nerve), điều khiển một số cơ bên phía ngón cái của bàn tay và phụ trách cảm giác 2/3 bàn tay bên phía đó. Nếu người bệnh dùng các cơ bàn tay nhiều (như đàn piano, đánh máy liên tục ngày này qua ngày khác), khuỷu tay cử động nhiều, các gân có thể viêm (tendinitis), vùng hang cổ tay trở nên quá chật hẹp và median nerve bị đè lên (nerve compression) làm cho bàn tay bị đau, cũng như những cơ ở mu bàn tay bên phía ngón cái bị teo lại trong trường hợp nặng.Trường hợp này gọi là hội chứng đường hầm cổ tay (carpal tunnel syndrome). Viêm gân (tendinitis) và hội chứng hầm cổ tay là những thành phần trong hội chứng còn được gọi là 'tổn thương do dùng cổ tay và bàn tay quá nhiều" (overuse injuries of hand and wrist)
Tuy nhiên, cũng như mọi khi, bệnh nhân cần được bác sĩ khám và định bệnh chính xác. Một số điều kiện khác có thể giải thích ngón tay bị yếu, không viết lâu được mà chỉ có bác sĩ của bệnh nhân mới giải quyết tường tận được.
Sau đây, tôi xin nói về "overuse injuries" của bàn tay và cổ tay.
Chữa trị:
1)    Bảo thủ
•    Wrist brace: Bó (không bó chặt) cổ tay lại để giảm thiểu cử động lập đi lập lại nơi cổ tay.
Vận động viên Kei Nishikori của Nhật Bản chườm túi đá lên mặt trong trận đấu tennis đơn nam với vận động viên Dusan Lajovic của Serbia thuộc giải mở rộng Australia 2014 ở Melbourne 16/1/2014.Vận động viên Kei Nishikori của Nhật Bản chườm túi đá lên mặt trong trận đấu tennis đơn nam với vận động viên Dusan Lajovic của Serbia thuộc giải mở rộng Australia 2014 ở Melbourne 16/1/2014.
•    Đắp nước đá (icing, ice treatment) cho sưng đau cấp tính: dùng nước đá trong bao plastic, hoặc túi đậu xanh petit-pois đặt trong tủ đá (freezer) cho lạnh. Không đắp quá 30 phút. Chỉ đắp sau khi hoạt động gây tổn thương xảy ra (vd lực sĩ sau khi tập luyện, sau chấn thương); không đắp nước đá trước khi vận động.
•    Đắp nóng (heat treatment); dùng cho trường hợp mãn tính, trước khi hoạt động, làm cho các mô giãn ra, máu lưu thông nhiều hơn.
- Tránh dùng đắp nóng sau khi hoạt động, vào chỗ đang sưng, vì máu có thể dồn đến nhiều hơn và làm sưng thêm.
- Có thể dùng heating pad (túi sưởi plastic, hâm nóng vài phút trong lò vi sóng), hoặc dùng khăn nước nóng.
- Không dùng hơi nóng hoặc đắp đá trên da bị thương tích, nếu vùng đó mất cảm giác, máu không lưu thông bình thường, nếu mắc bệnh tiểu đường (diabetes).
•    Uống thuốc giảm đau, giảm viêm (NSAIDS) như Ibuprofen, Tylenol, Naprosyn
•    Bác sĩ chích corticoid vào cổ tay.
2)    Phẫu thuật cho những trường hợp nặng cần "giải phóng" các sợi gân và dây thần kinh bị gò bó, chèn ép trong cổ tay.
Phòng ngừa
Máy tính có thể làm hư bàn tay và ngón tay và đau vai, lưng. Cổ tay đau vì bàn phím (keyboard) quá cao, và lưng vai đau vì monitor quá thấp.
Có thể tránh bằng cách:
•    Dùng màn hình monitor riêng rẽ, dễ đọc hơn và ngang tầm mắt, cho phép ngổi thẳng lưng.
•    Dùng bàn phím riêng, để thấp dưới bàn để khi đánh máy, có thể giữ khuỷu tay ở góc 90 độ.
•    Dùng ghế ngồi chắc, điểu chỉnh đúng tầm mình, ergonomic, nghĩa là thích hợp cho những cử động tự nhiên của người dùng.
•    Nếu mỏi, tê nhức, phải ngưng, nghỉ ngơi, không nên cố gắng quá sức với mục đích "tập cho quen."
Tránh để laptop trên đùi lúc mình dùng máy lâu. Thế ngồi cúi đầu làm mỏi mệt, nhức lưng, cổ, mỏi mắt. Sức nóng phát ra có thể gây phỏng da đùi (laptop burn, erythema ab igne).
Chúc bệnh nhân và phụ huynh may mắn.

Bác sĩ Hồ văn Hiền

Đôi nét về giai điệu bolero

Dòng nhạc bolero ngọt ngào trữ tình đã đi vào lòng người yêu nhạc từ nhiều thập kỷ qua, dù cho có những lúc tưởng chừng như bị thất sủng, nhưng bolero vẫn trường tồn, trải qua bao thăng trầm, nhạc bolero đang dần lấy lại vị trí của mình trên một thị trường âm nhạc khá bão hòa tại Việt Nam.
Loại nhạc phổ thông
Xuất phát từ một điệu nhạc nhảy của Tây Ban Nha, bolero được du nhập vào Việt Nam từ những năm 50, 60 của thế kỷ trước… với giai điệu nhẹ nhàng, chậm buồn, những tác phẩm của dòng nhạc này thường là những câu chuyện kể với nội dung gần gũi, bình dị, thường kể về tình cảm của người lao động, tình yêu đôi lứa, đôi khi là nhạc học đường, nhạc hoài niệm về những gì đã qua, rồi nói sự cô đơn chia ly cũng như hình ảnh của những người lính trong chiến trận, vì thế, bolero dễ tạo cảm giác gần gũi, thân thuộc với người nghe.
Ban đầu bolero xuất hiện ở miền Nam Việt Nam, sau năm 1975, dòng nhạc này mới lan ra ngoài Bắc. Theo nhạc sĩ Trần Thế Bảo thì dòng nhạc bolero ở VN hơi đơn điệu, phần hát và đệm thường chồng lên nhau, theo ông, bolero hiện tại có lượng người nghe lớn và có rất nhiều người trẻ, khi nghe dòng nhạc này, giới trẻ sẽ có dịp trầm tư, suy nghĩ về bản thân chứ không phải sống vội, sống gấp…
Sự thật hai chữ nhạc sến phát suất từ ông Phạm Duy. Nhạc sĩ Phạm Duy chỉ nói đùa thôi vì hồi trước 75 những bản nhạc mà người ta gọi là nhạc sến ngày nay thì hồi đó người ta gọi là nhạc phổ thông
nhạc sĩ Chế Linh
Trong số những nhạc sĩ nổi tiếng của dòng nhạc này, người ta không thể không nhắc tới nhạc sĩ Trúc Phương, người được mệnh danh là “ông hoàng bolero của dòng tân nhạc VN” ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Sầu Lẻ Bóng, Đôi Mắt Người Xưa, Ai Cho Tôi Tình Yêu, Đêm Gác Trọ, 24 Giờ Phép, Hai Lối Mộng, Chiều Cuối Tuần… Các ca khúc của ông thường mang âm hưởng dân ca Nam Bộ, tràn đầy những triết lý và suy ngẫm về cuộc đời và thân phận con người. Ông từng được vinh danh trong hai đêm nhạc của Trung Tâm Thúy Nga và Trung Tâm Asia. Bên cạnh nhạc sĩ Trúc Phương, nhiều nhạc sĩ khác cũng có những tác phẩm để đời như: Trịnh Lâm Ngân (Xuân Này Con Không Về), Vinh Sử (Không Giờ Rồi), Hoàng Phương (Hoa Sứ Nhà Nàng), Giao Tiên (Vó Ngựa Trên Đồi Cỏ Non) hay những nhạc sĩ đã khuất khác: Châu Kỳ, Duy Khánh, Thanh Sơn, Hoàng Thi Thơ, Trầm Tử Thiêng…
Còn về những ca sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc bolero, về nữ có thể nhắc đến Thanh Thúy, Phương Dung, Thanh Tuyền, Hoàng Oanh, Giao Linh, về nam có Chế Linh, Duy Khánh, Nhật Trường, Tuấn Vũ…
Tại Việt Nam, bolero cũng được nhiều người gọi bằng tên khác là nhạc sến, lý giải về điều này, nhạc sĩ Chế Linh từng cho chúng tôi biết:
Sự thật hai chữ nhạc sến phát suất từ ông Phạm Duy. Nhạc sĩ Phạm Duy chỉ nói đùa thôi vì hồi trước 75 những bản nhạc mà người ta gọi là nhạc sến ngày nay thì hồi đó người ta gọi là nhạc phổ thông.” Theo ca sĩ Chế Linh thì chữ “sến” này được phổ biến vì nhạc sĩ Phạm Duy đọc báo thấy nhạc phổ thông thịnh hành quá sức và nói đùa rằng: ối giời ơi cái nhạc sến thế mà nó ăn khách thế! Và câu nói của ông được nhà văn Đặng Tấn viết lên và từ đó chữ “nhạc sến” xuất hiện.
Bolero lên ngôi trở lại
Năm 2014 có thể được coi là năm lên ngôi của nhạc bolero khi những cuộc thi tiếng hát, tìm kiếm tài năng hay truyền hình thực tế liên tiếp lấy bolero làm nguồn cảm hứng. Chẳng hạn, chương trình Solo cùng Bolero được xem là chương trình truyền hình thực tế đầu tiên ở VN dành cho bolero, tiếp đến là Tình Bolero và nhiều những chương trình Tình Khúc Vượt Thời Gian cũng lấy chủ đề Tình Khúc Bolero làm ý tưởng chủ đạo hay các ca khúc Bolero cũng được chọn trong Gương Mặt Thân QuenNhân Tố Bí Ẩn, Sol Vàng chưa kể một số đông nhạc sĩ và ca sĩ đang quay lại với bolero và sử dụng lại các ca khúc này trong liveshow của mình.
Theo đánh giá của giới chuyên gia thì những chương trình về nhạc bolero gần đây đã có sức hút mạnh với công chúng, những người yêu bolero được tham gia vào những sân chơi đúng nghĩa
Cũng chính bởi sự trở lại của bolero, mà thời gian gần đây, giới yêu nhạc trong nước liên tục được thưởng thức những màn trình diễn kết nối giữa hai thế hệ cùng hát nhạc bolero như: Lệ Thu, Phương Dung, Phi Nhung, Quang Lê, Hồng Hạnh, Mỹ Lệ, Hiền Thục, Lệ Quyên…
Theo đánh giá của giới chuyên gia thì những chương trình về nhạc bolero gần đây đã có sức hút mạnh với công chúng, những người yêu bolero được tham gia vào những sân chơi đúng nghĩa, họ được gặp lại hầu hết những tác phẩm đã gắn liền với một phần của tuổi thơ, được thỏa sức phiêu bồng trong những chương trình âm nhạc đã từ lâu vắng bóng.
Có thể nói, việc trân trọng, gìn giữ những nét đẹp của nhạc bolero là điều cần thiết, bởi xét cho đến cùng thì sức mạnh bền bỉ của bolero cũng chính là bởi giá trị tự thân của nó, trải qua bao sàng lọc, sóng gió nhưng bolero vẫn tồn tại như một minh chứng cho những giá trị tinh thần vượt thời gian và luôn thấm đẫm hồn Việt với biết bao thế hệ.

Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973

Thay vì đưa đến “hòa bình trong danh dự”, hiệp định này mở đường cho CSVN xâm chiếm trọn vẹn miền Nam Việt Nam trong vòng hơn hai năm sau. Những tài liệu về chiến tranh Việt Nam được bạch hóa trong thời gian gần đây cho thấy những sự thật phũ phàng đã đưa đến Hiệp Định Paris 1973.
Tóm tắt diễn tiến Hiệp Định Paris 1973
Cuộc hòa đàm tại Paris bắt đầu từ 1968 vào cuối thời Tổng thống Lyndon Johnson và tiếp tục dưới thời Tổng Thống Richard Nixon nhưng không đạt được tiến bộ nào cả cho đến cuối nhiệm kỳ I của Ông Nixon khi Ông Henry Kissinger, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Nixon đạt được một số đồng thuận trong những phiên họp bí mật với Ông Lê Đức Thọ, Trưởng Phái Đoàn Thương Thuyết của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) và trong cuộc tiếp súc bí mật với các Ông Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tại Bắc Kinh.  Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không đồng ý những điều kiện do CSBV đưa ra và đòi hỏi nhiều thay đổi. Hà Nội phản ứng bằng cách công bố chi tiết về những điều hai Ông Kissinger và Lê Đức Thọ đã đồng ý. Cuộc hòa đàm trở nên bế tắc. Một mặt Ông Nixon ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Phòng liên tục trong 12 ngày vào cuối năm 1972. Mặt khác, Chính quyền Hoa Kỳ áp lực VNCH chấp nhận điều kiện ngưng chiến.
Ngày 23-1-1973, hai Ông Lê Đức Thọ và Kissinger đồng ý về một thỏa hiệp sơ bộ. Bốn ngày sau đó, Hiệp Định Paris được chính thức ký kết vào 27-1-1973. Hiệp Định này đòi hỏi ngưng bắn toàn diện tại miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ rút hết số quân còn lại tại Việt Nam trong vòng 60 ngày, quân CSBV (khoảng 150,000 binh sĩ) được phép ở lại miền Nam Việt Nam tại những vùng CSBV đã chiếm đoạt, và tất cả tù binh Hoa Kỳ được hồi hương. Hiệp Định Paris cũng kêu gọi Chính Phủ VNCH và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ và tự do tại miền Nam Việt Nam để chấm dứt cuộc xung đột. Tổng Thống Nixon hứa sẽ sử dụng Không Lực Hoa Kỳ để bảo đảm sự thi hành hiệp định này.
Trong khi đàm phán, Hoa Kỳ tiếp tục rút quân và thi hành chương trình Việt Nam hóa để quân lực VNCH dần dần thay thế quân lực Hoa Kỳ.
Khoảng cách chạy tội
image003-250.jpg
Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27-1-1973.
Việc mất miền Nam Việt Nam ít người Việt thời đó có thể dự đoán, nhưng không phải là điều ngạc nhiên đối với Hoa Kỳ mặc dù đã có Hiệp Định Paris. Thật vậy, chánh quyền Nixon không muốn thấy miền Nam Việt Nam sụp đổ trước cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972, vì như thế có nghĩa là hi vọng thắng cử nhiệm kỳ II của Ông Nixon cũng sẽ sụp đổ theo.
Vì muốn bảo vệ thanh danh cho Hoa Kỳ và sự nghiệp chính trị của mình, Ông Nixon đã làm đủ mọi thứ để giữ miền Nam Việt Nam khỏi phải rơi vào tay CSVN trong nhiệm kỳ I (1969-1972). Trong cuộc họp bí mật đầu tiên với Thủ Tướng Chu Ân Lai vào tháng 7, 1971 tại Bắc Kinh, Ông Kissinger bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản.
Trên một tài liệu thuyết trình cho chuyến đi Bắc Kinh bí mật đầu tiên, Ông Kissinger ghi chú rằng Hoa Kỳ cần một thời gian chạy tội. Trung Quốc có sự cam kết của Hoa Kỳ. Ông Kissinger viết nguyên văn như sau:
“We need a decent interval. You have our assurance.”
Theo những tài liệu do các phụ tá của Ông Kissinger ghi chép lại những lời đối thoại của ông với Thủ Tướng Chu Ân Lai, Ông Kissinger nói rằng Hoa Kỳ sẽ ấn định thời hạn chót cho việc rút quân và trong thời gian rút quân sẽ có ngưng bắn trong khoảng 18 tháng và đàm phán. Nếu thỏa hiệp thất bại, dân Việt Nam sẽ tự giải quyết. Nếu chính phủ miền Nam Việt Nam không được quần chúng ưa chuộng, lực lượng của Hoa Kỳ càng rút nhanh, chính phủ này càng sớm bị lật đổ và Hoa Kỳ sẽ không can thiệp.
Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:
“We will set a deadline for withdrawals, and during withdrawals there should be a cease-fire, and some attempt at negotiations. If the agreement breaks down then it is quite possible that the people in Vietnam will fight it out. If the [South Vietnamese] government is as unpopular as you seem to think, then the quicker our forces are withdrawn the quicker it will be overthrown. And if it is overthrown after we withdraw, we will not intervene. We can put on a time limit, say 18 months or some period [for a cease-fire].  National Security Advisor Henry Kissinger, Beijing, July 9, 1971.
Hoa Kỳ cũng không muốn miền Nam Việt Nam mất nhanh chóng trong vòng sáu tháng sau khi Hiệp Định Paris ký kết để Hoa Kỳ không bị mang tiếng thua trận. Nhưng nếu là hai năm, sẽ không có vấn đề gì cả.  VNCH cần phải tự lực chiến đấu trong một thời gian đủ dài để chịu trách nhiệm về cuộc bại trận cuối cùng. Sau đây là phần phát biểu thâu băng của Ông Nixon về vấn đề này:
“The country would care if South Vietnam became Communist in a matter of six months. They will not give a damn if it’s two years.” President Richard M. Nixon, March 17, 1973.
Ông Kissinger trước đó cũng có quan điểm tương tự về việc mua thời gian để tháo chạy mà không bị bẽ mặt:
“ We’ve got to find some formula that holds the thing together a year or two, after which – after a year, Mr. President, Vietnam will be a backwater. If we settle it, say, this October, by January ’74 no one will give a damn.” National Security Adviser Henry A. Kissinger, August 1972.
Cả hai ông Nixon và Kissinger đều đồng ý rằng VNCH có thể sẽ mất sau cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ vào tháng 11, 1974. Nếu xẩy ra vào mùa xuân 1975, thời điểm này tốt hơn là mùa xuân 1976.
Nhà Sử Học Ken Hughes thuộc University of Virginia nhận xét rằng:
“Nhiều người có tư tưởng phóng khoáng nghĩ rằng Ông Nixon thật sự cương quyết muốn ngăn chặn Cộng Sản thắng ở Việt Nam. Nhưng Ông ta chỉ cương quyết ngăn chặn Đảng Dân Chủ thắng tại Hoa Kỳ mà thôi.” Sử Gia Ken Hughes, June 2010.
Vào tháng 2, 1972, Ông Nixon viếng thăm Bắc Kinh lần đầu tiên, làm thân với Trung Quốc, khởi sự thảo luận với Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Thủ Tướng Chu Ân Lai về chính sách một nước Trung Hoa, và đạt được sự bảo đảm của Bắc Kinh về giải pháp hòa bình trong danh dự đối với Việt Nam với một khoảng cách chạy tội (decent interval).
Kéo dài chương trình Rút Quân và Việt Nam Hóa chiến tranh
Những tài liệu mới giải mật cũng cho thấy Ông Nixon và Ông Kissinger tin rằng:
1.    Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh sẽ không làm cho miền Nam Việt Nam có đủ khả năng để tự bảo vệ.
2.    Những điều kiện “hòa bình” mà Ông Kissinger đã thương thuyết sẽ làm miền Nam Việt Nam sụp đổ sau một thời gian một hoặc hai năm (khoảng cách chạy tội).
Để che đậy sự thất bại của chiến lược Việt Nam Hóa và thương thuyết, Ông Nixon với sự khuyến cáo của Ông Kissinger, kéo dài cuộc chiến tranh đến năm thứ tư (1972) của nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên – dài đủ để tránh sự sụp đổ của VNCH trước ngày bầu cử nhiệm kỳ II.  Chính vì vậy mà Ông Nixon kéo dài chương trình rút quân qua nhiều năm.
Trong cuốn băng thâu bí mật tại phòng bầu dục trong Tòa Nhà Trắng, Ông Nixon nói:
“We’ve got dates in mind. We’ve got dates everywhere [from] July to August to September [to] October [to] November to December [to] January of 1973.” President Richard Nixon, September 4, 1971.
Quân số Hoa Kỳ ở Việt Nam bắt đầu giảm từ cao điểm 543,000 người vào năm 1968 và đến đầu năm 1973 mới chấm dứt, tức là sau cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972.
Đối với công chúng, Ông Nixon phải rút một số quân về nước đủ để thỏa mãn hai mục tiêu:
1.    Chứng tỏ chương trình Việt Nam hóa thành công.
2.    Giữ lời hứa khi tranh cử.
Đối với sự nghiệp chính trị, Ông Nixon hoàn toàn bám vào lịch trình tranh cử để hoạch định chương trình rút quân, dù có đạt được thỏa thuận với Hà Nội hay không (Theo Ông Nixon sắc xuất chỉ có 40% - 55 %) và bất kể VNCH có đứng vững sau khi quân Hoa Kỳ rút về nước hay không.
Hãy nghe cuộc đối thoại giữa Tổng Thống Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger vào ngày 11-3-1971:
Nixon: “We’ve got to get the hell out of there.”
Kissinger: “No Question.”
Tuy nhiên trước công chúng Hoa Kỳ, Ông Nixon vẫn hứa một giải pháp hòa bình trong danh dự. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam chỉ khi nào chương trình Việt Nam hóa hoặc cuộc thương thuyết thành công – khi miền Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ và tự quản trị.
Hoa Kỳ thất hứa không can thiệp trong trường hợp Hiệp Định Paris bị vi phạm
Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tin rằng những điều kiện Hoa Kỳ cho phép 150,000 quân CSBV ở lại miền Nam sẽ khiến VNCH sụp đổ. Theo tài liệu mới được bạch hóa, trong buổi họp với Tướng Alexander Haig, phụ tá Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, tại Saigon vào ngày 4-10-1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng theo đề nghị của Hoa Kỳ, chính phủ VNCH tiếp tục tồn tại. Nhưng đây chỉ là giải pháp đau lòng và sớm muộn chính phủ này sẽ sụp đổ và theo đó Ông Thiệu sẽ phải tự sát.
Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:
“In the proposal you have suggested, our Government will continue to exist. But it is only an agonizing solution, and sooner or later the Government will crumble and Nguyen Van Thieu will have to commit suicide somewhere along the line.” President Nguyen Van Thieu, Saigon, October 4, 1972.
Ông Thiệu cực lực phản đối đề nghị hòa bình giả tạo của Hoa Kỳ làm cho cuộc hòa đàm ở Paris ngưng lại. Ông Nixon phải hứa sẽ tăng viện trợ quân sự và Hoa Kỳ sẽ trở lại Việt Nam nếu CSBV tấn công. Đồng thời Ông Nixon đe dọa sẽ cắt viện trợ để buộc Ông Thiệu phải chấp nhận đề nghị của Hoa Kỳ. Một tài liệu mới được bạch hóa cho thấy rằng Ông Nixon đe dọa đến cả tính mạng của Ông Thiệu:
“I don’t know whether the threat goes too far or not, but I’d do any damn thing, that is, or to cut off his head if necessary.” President Richard Nixon, January 20, 1973.
image005-250.jpg
Ông Lê Đức Thọ và Ông Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris.
Hiệp Định Paris chỉ giúp Hoa Kỳ rút được quân ra khỏi Việt Nam an toàn, chấm dứt việc can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến tại Việt Nam, nhưng đã không mang lại hòa bình cho Việt Nam. Thật vậy, khoảng một năm sau, vào tháng 1, 1974, Tổng Thống Thiệu tuyên bố Hiệp Định Paris không còn giá trị sau khi Cộng quân lợi dụng cuộc ngưng chiến trong năm 1973, tiến hành những trận đánh nhỏ để chiếm những vùng xa xôi hẻo lãnh.
Trong khi đó Quốc Hội Hoa Kỳ tiếp tục giảm viện trợ cho Việt Nam từ 2.2 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1973, 1.1 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1974, và 700 triệu Mỹ kim cho tài khóa 1975. Tình trạng miền Nam Việt Nam trở nên nghiêm trọng hơn vào cuối năm 1974 khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật 1974 Foreign Assistance Act, chấm dứt tất cả những viện trợ quân sự. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ không thể thể dùng không lực để trợ giúp miền Nam Việt Nam khi CSBV vi phạm Hiệp Định Paris.
Sau khi Đạo Luật Viện Trợ Ngoại Quốc 1974 ban hành ít lâu, CSBV tiến đánh và chiếm tỉnh Phước Long vào ngày 6-1-1975 và tỉnh Bình Long vào ngày 7-1-1975. Khi không thấy Hoa Kỳ có phản ứng nào cả, ngày 8-1-1975 Hà Nội ra lệnh tổng tấn công để giải phóng miền Nam bằng cách ngang nhiên xua quân vượt qua biên giới Bắc Nam, tấn công toàn diện Vùng I và II Chiến Thuật vào tháng 3, 1975 và cuối cùng chiếm Saigon vào 30-4-1975 đúng với thời hạn mà hai Ông Nixon và Kissinger dự đoán.
Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ James Schlesinger điều trần trước Quốc Hội vào ngày 14-1-1975 rằng Hoa Kỳ không giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu. Bẩy ngày sau, Tổng Thống Gerald Ford, người thay thế ông Nixon từ chức vì vụ Watergate, tuyên bố rằng Hoa Kỳ không sẵn sàng tái tham chiến tại Việt Nam. Tại New Orleans vào ngày 23-4-1975, Ông Ford tuyên bố chiến tranh Việt Nam chấm dứt.
Vào buổi trưa ngày 29-4-1973, Đài Phát Thanh Saigon truyền đi bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” qua dọng ca của Bing Crosby, báo hiệu cuộc di tản cuối cùng của Hoa Kỳ bắt đầu.
Phục hồi Hiệp Định Paris 1973?
Gần đây, có vài nhóm người Việt tại hải ngoại chủ trương vận động quốc tế để phục hồi lại Hiệp Định Paris 1973, đặc biệt mới đây nhất là Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH (UBLĐLTVNCH), một hình thức chính phủ lưu vong nhưng không dùng danh xưng tổng thống hay thủ tướng, của Ông Nguyễn Ngọc Bích (75 tuổi). Các tổ chức này tin rằng nếu vận động quốc quốc tế làm sống lại Hiệp Định Paris 1973 (nhưng không nói gì đến Hiệp Định Geneva 1954 mà chính VNCH đã xé bỏ), Hà Nội sẽ phải trả lại miền Nam Việt Nam cho VNCH.
Giả sử rằng UBLĐLTVNCH có khả năng làm chuyện này, mặc dù tôi nghĩ là không có một cơ may nào cả, UBLĐLTVNCH sẽ không thâu tóm toàn bộ phần đất dưới vĩ tuyến thứ 17 ngay được. Hiệp Định Paris đòi hỏi tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam, UBLĐLTVNCH sẽ phải ra tranh cử với Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (chính thức bị giải tán vào ngày 25-4-1976) . Nhưng trước hết, UBLĐLTVNCH sẽ phải đưa hàng triệu người Bắc 75 về nguyên quán ngoại trừ 150,000 quân CSBV được Ông Kissinger và Ông Chu Ân Lai cho phép ở lại miền Nam từ 1973 đến nay. Tóm tắt lại để đỡ tốn giấy mực, ý tưởng phục hồi Hiệp Định Paris là hoang tưởng nếu không muốn nói là bệnh hoạn. Ngay cả nước Mỹ cũng muốn quên Hiệp Định Paris 1973 đau lòng này do chính họ dựng lên.
Kết luận
Hoa Kỳ dưới thời Nixon đã bỏ rơi đông minh của mình là một điều đáng hổ thẹn đối với một quốc gia biết tôn trọng những giá trị cao quý. Nhưng may thay, những sử gia và những nhà phân tách Hoa Kỳ ngày nay đã phanh phui ra sự thật và lên án nặng nề những lỗi lầm đó. Đặc biệt GS Larry Berman đã viết hai cuốn sách được nồng nhiệt đón nhận:
1.    Planning Tragedy: The Americanization of the War in Vietnam (1982).
2.    No Peace No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam (2001).
Về phía người Việt, hơn ai hết, chúng ta có trách nhiệm lớn về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam và đưa phần đất này vào tay Cộng Sản. Nếu Ông Hồ Chí Minh khôn ngoan đã không du nhập chế độ Cộng Sản vào Việt Nam và nếu người dân Việt Nam, kể cả một thành phần không nhỏ trí thức, khôn ngoan đã không đi theo Cộng Sản để reo rắc đau thương triền miên cho đất nước trong một nửa thế kỷ và làm đất nước chậm tiến như ngày nay. Một bài học lớn là đừng bao giờ chui vào vòng nô lệ của bất cứ ngoại bang nào dù là đồng minh.