Saturday, June 27, 2015

DỤC VỌNG Núp Danh Nghĩa THẦN THÁNH

Theo lời khai của các nạn nhân, "tiên tri" Warren thường mò và hiếp dâm trẻ em; có đứa chỉ 9-10 tuổi; cỡ tuổi Aisha Bakr và bảo chúng rằng đó là hình phạt của "thượng đế"! Y gây nhiều oán hận trong hội thánh nên ngày càng bị tín đồ thù ghét; điển hình nhất là "ông quản" Richard Holm, một tín đồ thương gia giàu có được "tiên tri" bố Rulon Jeffs ưu ái và có tiềm năng kế vị Rulon. 
Vụ "giám mục" Frederick Merril Jessop 79 tuổi có 22 vợ của đạo FLDS (Fundamental Latter-Day Saints) gọi nôm na là Mormon, đồng lõa của chính phạm "tiên tri giáo chủ" Warren Jeffs bị tù chung thân; dự trù mãn án ngày 4/11/2021 nhưng được Texas Board of Pardons & Parole thả sớm đầu năm 2015 khiến nhiều tín đồ nạn nhân của y và Warren Jeffs còn bàng hoàng như tai ương mới vừa xảy ra hôm qua; không kém tin thời sự về các tổ chức Hồi giáo khủng bố giết người hàng ngày khắp nơi trên thế giới; bắt cóc hàng mấy trăm nữ sinh TCG ở Nigeria, đàn bà con gái Yazidi ở Iraq để làm nô lệ tình dục; hoặc các tên Hồi giáo khủng bố ở Pháp, Bỉ, Kenya, Nigeria và khắp nơi trên thế giới giết người để được vào "thiên đàng" của Muhammad lấy 72 trinh nữ trên đó! F.M. Jessop can tội hiếp dâm trẻ gái vị thành niên; trong đó y hiến con gái trinh 12 tuổi cho "tiên tri" giáo chủ Warren Jeffs để được thăng tiến trên con đường hoạn lộ (tựa Abu Bakr "hoàng đế" Caliphat I từ 632-634AD của Hồi giáo hiến con gái trinh Aisha Bakr 9 tuổi cho giáo chủ Muhammad hồi thế kỷ VII). FLDS xuất phát từ LDS, đạo Mormon nguyên thủy do giáo chủ Joseph Smith Jr 14 tuổi sáng lập. FLDS là chi nhánh tách ra từ LDS; chủ trương duy trì chế độ đa thê. FLDS tin là Jesus sinh ngày 6/4 thay vì 25/12.

Hội thánh Latter-Day Saints (LDS-hay tên đầy đủ là Church of Jesus Christ of LDS) do giáo chủ Joseph Smith Jr. 14 tuổi sáng lập năm 1830. Cậu thiếu niên giáo chủ này sống ở New York; nói rằng đêm ngủ mộng thấy hai thiên thần hiện ra; một đại diện God, một đại diện Jesus, bảo hãy lập một hội thánh để thay thế các hội thánh Tin Lành khác trong vùng đang tranh giành ảnh hưởng và chống phá lẫn nhau thời đó 1820. Các tín đồ bất mãn và thất vọng của các hội thánh Tin Lành Methodist, Presbyterian, Baptist, Quakers, Episcopal ..vv.. đã theo và giúp Smith Jr gây dựng LDS. Chẳng bao lâu sau vì tranh chấp quyền lực cá nhân, phe hưởng lợi từ chế độ đa thê đã phải tách ra lập Fundamental Latter-Day Saints (FLDS) do kẻ kế vị Smith Jr. là Brigham Young cầm đầu sinh hoạt ngầm; còn phe tôn trọng luật pháp Mỹ giữ nguyên tên gọi LDS. Cả hai đều được gọi nôm na là đạo Mormon. Smith Jr. (và em trai Hyrum) bị giết chết trong tù hôm 27/6/1844 thọ 38 tuổi. "Tiên tri" Warren Jeffs 59 tuổi sau này của FLDS gây nhiều tội ác đã lãnh án chung thân + 20 năm hôm 20/11/2007 hiện vẫn còn trong tù.

Ba năm sau, năm 1823 để tạo sự huyền bí, Smith Jr bảo có một thiên thần tên Moroni hiện ra báo mộng cho giáo chủ nay 17 tuổi biết chỗ chôn một kho tàng gồm 2 viên đá nằm trong 2 chén bạc và các tấm vàng y có khắc mẫu tự cổ không rõ của sắc tộc tiền sử nào. Cậu liền đến lấy đem về "dịch" ra Anh ngữ và biến bản dịch ấy thành "kinh thánh" của đạo Mormon. Sau khi dịch, Joseph đem trả các cổ vật này lại chỗ cũ nên tín đồ chẳng ai biết có hay không; khiến bí mật này càng thêm bao trùm! Kinh Mormon viết rằng Jesus sau khi sống lại đã kể câu chuyện một bộ tộc Do-thái cổ (không phải bộ tộc trong Cựu Ước) bị trôi giạt từ Trung Đông băng Đại Tây Dương vào vùng đất hứa Bắc Mỹ hồi 2,600 năm trước; tạo nên hội thánh Mormon LDS mà tên LDS là để chỉ những vị lãnh đạo tinh thần vĩ đại cổ thời. Sách Mormon ấn bản đầu dày 600 trang viết về 3 nhóm di dân đến New World (Mỹ); chủ yếu từ thời kỳ 600BC-AD421. Người thì cho rằng sách do Joseph Smith Jr sáng tác. Kẻ khác cho rằng sách là bản dịch của ông từ cổ ngữ. Nhiều người không tin cả hai giả thuyết vì không biết giáo chủ thạo cổ ngữ gì, học hồi nào!?

Joseph Smith Jr. sinh ngày 23/12/1805 tại Sharon,Vermont. Cha là Joseph Smith Sr. (1771-1840), đạo Presbyterian. Mẹ là Lucy Mack (1775-1856), đạo Methodist. Vợ đầu là Emma Hale (10/7/1804-1879) đạo Methodist; cưới hôm 18/1/1827. Porter Orrin Rockwell là một trong những tín đồ Mormon đầu tiên. Brigham Young (1801-1877) kế vị Smith Jr sau khi giáo chủ bị ám sát chết. Các "tiên tri" kế tiếp theo thứ tự là John Taylor (1808-1887), Wilford Woodruff (1807-1898), Eliza Roxey Snow (1804-1887)..vv.. Leroy Johnson già nua được bầu "tiên tri" trị vì 32 năm từ 1953. Có đến 7 phụ tá tranh giành giết nhau để được kế vị; cuối cùng Rulon Jeffs đã "đảo chánh" thành công. Rulon "phán" với các tín đồ rằng ông ta được God cho sống thọ 350 năm; nhưng rồi cũng về "đoàn tụ" với giáo chủ Smith Jr hôm 8/9/2002 ở tuổi 91! Con trai của Joseph Smith Jr là Joseph Smith III lập hội thánh mới có tên "Reorganized Church of J.C. of LDS" bãi bỏ chế độ đa thê cho hợp pháp. Một số tín đồ nguyên thủy bất đồng như William Law; kể cả em ruột giáo chủ là William Smith cũng tách ra làm chi nhánh.

Kinh Mormon giống Kur'an ở chỗ God (Allah) ủy thác cho Smith là nhà Tiên Tri giáng trần, sứ giả duy nhất trực tiếp thay mặt God (Muhammad thay mặt Allah). Cả hai đạo đều dựa vào Kinh Thánh TCG rồi thêm bớt theo chủ đích riêng của mình. Cả hai đều cấm rượu và cho đa thê; đạo Mormon cho phép lấy ít nhất 3 vợ; riêng Smith Jr có đến 40 vợ; vợ nhỏ nhất là Helen Mar Kimball 14 tuổi, con của một tín đồ muốn làm lớn trong hội thánh. Đạo Hồi cho phép ít nhất 4 vợ. Muhammad có nhiều vợ; ít nhất 12 vợ được nhắc đến trong sử liệu. Vợ Aisha Bakr mới 9 tuổi; con của  Abu Bakr cống hiến cho giáo chủ để được phong "hoàng đế vương quốc Hồi giáo Caliphat I" (632-634AD). Đạo Hồi, ngoại trừ mấy nhóm như Taliban bắt phụ nữ trùm mền từ đầu đến gót chân chỉ trừ hai mắt; còn thì ở các nước cựu thuộc địa như Mã-lai, Pakistan, Jordan ..vv..đều cho phụ nữ trang sức và đi giày cao gót. Đạo Mormon thì không; lại còn bắt phụ nữ mặc đồng phục thế kỷ 19.

Cuốn "kinh thánh" Mormon này được thêm thắt các tín điều mới để làm nền tảng cho chủ nghĩa đa thê sau khi bà vợ Emma của giáo chủ phản đối việc giáo chủ lấy vợ bé! Đó là tín điều "Celestial Marriage" bổ sung năm 1831. Và để răn đe bà vợ ghen tuông này, "kinh thánh" của Smith Jr mọc thêm câu: "Và Ta ra lệnh cho hầu gái Emma Smith tuân phục và trung thành với tôi tớ Joseph không ai khác hơn. Nhưng nếu nàng không tuân phục điều răn này thì sẽ bị hủy diệt như lời phán của Chúa; bởi Ta là Chúa bởi Trời sẽ hủy diệt nó nếu nó không tuân phục theo luật của Ta"! Đoạn 132 câu 61 kinh Mormon viết: "Bất cứ đàn ông nào làm chồng một trinh nữ mà định làm chồng một trinh nữ nữa mà cô trước bằng lòng và cô sau còn trinh mà chưa hứa lấy ai thì đàn ông ấy chính đáng; không thể mang tội dâm dục vì cả hai bà đều thuộc về đàn ông ấy"! Chỉ còn thiếu việc vu khống, bắt nạn nhân lãnh án "fatwã" (tử hình) và bị ném đá nữa thì thành Sunni, Shii'a của đạo Hồi!

Sau khi LDS áp dụng chế độ đa thê, Smith Jr và 5,000 tín đồ đa thê bị dân địa phương đuổi khỏi NY. CQ Missouri đã chính thức ra lệnh trục xuất nhóm Mormon này ra khỏi tiểu bang khiến họ phải dời đi Illinois; định cư ở Nauvoo, "thánh đô" Mormon do Smith Jr. khai lập và làm thị trưởng đầu tiên. Sóng gió nổi lên khi giáo chủ nổi danh rồi định ra tranh cử chức Tổng Thống Mỹ khiến anh ta bị truy tố nhiều tội danh. Thay vì bỏ trốn, Smith Jr cố thủ rồi bị bắt ở Missouri. Một nhóm quá khích 200 tên không rõ xuất xứ đã phá cổng nhà tù ở Carthage, MO rồi giết chết giáo chủ lúc đó 38 tuổi và anh ruột Hyrum Smith 44 tuổi đi cùng hôm định mệnh 28/6/1844. Lúc ấy Smith Jr đã có 4 con. Khoảng 10,000 tín đồ Anh giáo khắp nơi; kể cả từ Wales và Ireland đã đến viếng xác và tôn vinh Smith Jr làm Tiên Tri và thánh tử đạo khiến có giả thuyết Mormon có nguồn gốc Anh giáo?! Trong Temple Square ở Salt Lake City ngày nay có 2 bức tượng lớn bằng người thật của hai anh em Joseph Smith Jr và Hyrum Smith.

Brigham Young sống thọ hơn nên có 50 vợ; lên nối nghiệp tiền nhiệm Smith Jr. hồi 1844 và chọn Great Salt Lake (nay là Salt Lake City) thuộc Utah Territory (nay là tiểu bang) làm giáo đô. Young có quân đội, cảnh sát riêng cai quản độc tài như Hồi giáo. Quân đội này đã gây ra một biến cố 9/11 đầu tiên của nước Mỹ hôm 11/9/1857 khi Tư Lệnh Mormon, "giám mục" John Doyle Lee đem quân đội; trong đó 60 lính hóa trang giả thổ dân da đỏ để đánh cướp đoàn di dân do trưởng đoàn Alex Charles Fancher-Baker dẫn đầu cùng 132 tín đồ Presbyterian và Methodist từ Arkansas đi California định cư. Khi đoàn ngựa xe đi ngang qua địa danh Mountain Meadows thì bị chận cướp và tàn sát khiến 121 người chết; chỉ còn 17 trẻ em nhỏ sống sót. Bí mật tội ác này của quân Mormon đã được sử gia Juanita Brooks vạch trần trong sách "The Mountain Meadows Massacre" xuất bản năm 1950.

Vì LDS không bãi bỏ chế độ đa thê, Utah không được gia nhập liên bang hồi đó. TT Mỹ James Buchanan hồi thập niên 1850s đã phải huy động 1/5 quân đội Mỹ để chiếm "đất thánh" và cấm đa thê. Từ đó LDS đi vào áp dụng ngầm nhưng tuyên bố bỏ lệ này. Do đó, Utah Territory được gia nhập liên bang để trở thành tiểu bang năm 1896. Ngoài chế độ đa thê, LDS còn có chính sách kỳ thị màu da cho đến năm 1978 mới chính thức bãi bỏ. Tuy nhiên Elijah Abel đã là "giáo sĩ" da đen đầu tiên từ hồi 1832. Nhưng chi nhánh FLDS hồi thập niên 1920s vẫn trung thành với chế độ đa thê; tách ra lập giáo đô ở làng nhỏ Short Creek nằm giữa biên giới hai tiểu bang Utah và Arizona. Họ lập quĩ United Effort Plan (UEP) để thâu tóm và quản trị mọi tài sản của tín đồ do Tiên Tri và ban quản trị quản lí từ 1942 đến khi bị đóng hồi đầu thập niên 2000. CQLB cũng bỏ tù hàng chục "saints" (tiếng chỉ các "tu sĩ" của đạo) đa thê.

Thống đốc Howard Pyle đem quân bố ráp giáo đô hôm 26/7/1953 khiến nhiều người bị giết; tạo nên "pháp nạn" được ghi vào giáo sử kỷ niệm hàng năm. Ông bị thất cử sau đó vì hành vi đàn áp "tôn giáo" này. Short Creek sau được chia làm 2 thành phố: Colorado City thuộc Arizona và Hildale thuộc Utah. Quyền lực FLDS từ đó cũng chia làm hai. Có đến 3/4 tín đồ FLDS lãnh welfare và medicaid. Ngay cả foodstamps cũng phải nộp cho hội thánh nên FLDS nắm hoàn toàn kinh tế và cai trị kiểu CSVN: nắm bao tử công dân để dễ cai trị và bỏ đói để trừng phạt khi cần! Ai làm ra tiền phải đóng 10% lợi tức hàng năm + $1,000 mỗi tháng để gây quỹ mua đất xây giáo đô mới ở Texas! Warren Jeffs dùng tiền này của tín đồ để mua 1,691 mẫu đất gần Eldorado, TX và xây một nhà thờ lớn có thành lũy cao kiên cố để tránh con mắt tò mò của FBI. 

Do CQ hai tiểu bang Utah và Arizona làm lơ không can thiệp vào nội bộ "tôn giáo", nạn đa thê trong FLDS ngày càng trầm trọng; nhất là sau khi hai cha con "tiên tri" Rulon Jeffs và Warren Jeffs (vốn sanh thiếu tháng) đã lấn lướt thay thế "tiên tri" Leroy Johnson già nua (cai quản suốt 32 năm), người được bầu làm "tiên tri" hồi 1954. Ngoài việc thâu tóm tài sản của tín đồ, FLDS còn cưỡng bức hôn nhân và giải tán tùy tiện nhiều gia đình tín đồ khiến cha mẹ, vợ chồng và con cái họ bị thất tán. Khi bị "dứt phép thông công", nạn nhân bị đuổi khỏi hội thánh và bị tịch thu không những tài sản do họ làm ra mà còn tịch thu cả vợ con họ nữa! Không lấy làm lạ khi Warren mê đọc sách về Hitler và một số "thánh" của FLDS từng sang Trung Đông học hỏi chế độ đa thê và đàn áp phụ nữ kinh hoàng của các imams Hồi giáo ở vùng này.

Do chính sách cưỡng bức hôn nhân, các anh chị em họ gần thường bị buộc lấy nhau nên con cái họ bị còi cọc và kém cỏi mọi mặt; thậm chí bị dị tật và yểu tử do cùng gene. Nghĩa trang ấu nhi rộng lớn của hội thánh ở giáo đô là bằng chứng hùng hồn! Các cặp trẻ tuổi thường bị phân cách để hóa giải tình cảm của chúng. Các thiếu nữ ở lứa tuổi 14-18 phải cho các "tiên tri", các "thánh", các "giáo sĩ" và phe cánh chiếm làm "vợ"! (đạo Hồi áp dụng từ 10 tuổi trong vùng Quốc Gia Hồi Giáo hiện nay). "Tiên tri" Rulon Jeffs 86 tuổi đã có 65 vợ và 75 con vẫn còn "lấy" Rebecca Musser 19 tuổi. Ở tuổi 90 trước khi chết hôm 8/9/2002, "tiên tri" Rulon vẫn "đòi" trên giường nhưng bị Rebecca cự tuyệt! Warren biết chuyện nên đã dạy Rebecca rằng "trong mọi tình huống, never never never say NO to your husband!" và rằng "nếu không chiều chồng thì da thịt sẽ bị hủy diệt!"; và rằng "phải khát khao chiều chồng . . . không có gì bí mật trong đời mình nhưng phải giữ bí mật của chồng" ..vv.. Băng cassette "giảng đạo" này của Warren Jeffs đã được công tố viên Ryan Shaum cho phát thanh trong phiên tòa hôm 13/9/2007 khiến tác giả gục đầu nhắm mắt; có lẽ vì "hết đường chối"!?

Khác với những thiếu nữ và phụ nữ nạn nhân chế độ cưỡng bức hôn nhân trong xã hội Hồi giáo mà thế quyền đồng lõa với giáo quyền khiến họ không nơi nương tựa để thoát thân, xã hội Mỹ có luật pháp liên bang, tiểu bang và nhiều cơ quan từ thiện cứu nạn; nổi tiếng như tổ chức từ thiện "Hope" của Elaine Tyler. Các nạn nhân của hội thánh FLDS mà nổi tiếng là nhóm "Lost Boys" (như Johnny Jessop 13t, Zeke ..vv..) bị đuổi nhà thành vô gia cư rồi trở thành con nghiện và thành viên băng đảng. Các thiếu nữ như Elissa Wall, Rebecca Musser, Sarah Cooke, Sarah Hammon, Laura Mackert, Candi Shapley, Flora Jessop, Janetta Jessop 17t ..vv.. thì bị cưỡng bức lấy các "thánh" già nua (Fred Jessop, Fisher, Don Barlow, Mica Barlow, James Allred, Leroy Timpson, Benjamin Nielsen ..vv..; kể cả ba bố con "tiên tri" Rulon, Leroy và Warren). Không chỉ phụ nữ, nạn nhân còn là đàn ông thanh niên tín đồ bị cướp tài sản và vợ con như Richard Holm, David Draper, Ross Chatwin, Wendell Musser ..vv..

Theo lời khai của các nạn nhân, "tiên tri" Warren thường mò và hiếp dâm trẻ em; có đứa chỉ 9-10 tuổi; cỡ tuổi Aisha Bakr và bảo chúng rằng đó là hình phạt của "thượng đế"! Y gây nhiều oán hận trong hội thánh nên ngày càng bị tín đồ thù ghét; điển hình nhất là "ông quản" Richard Holm, một tín đồ thương gia giàu có được "tiên tri" bố Rulon Jeffs ưu ái và có tiềm năng kế vị Rulon. Do đó ông bị "tiên tri" con Warren tỵ hiềm ganh ghét. Khi có dịp thuận lợi, Warren đã lạm quyền và qua mặt ông bố Rulon ở tuổi 90s nghễnh ngãng để tịch thu tài sản và vợ con của Holm. Y "tịch thu" 3 con gái tuổi 17-18 và 2 vợ của Holm; thưởng 1 bà cho anh em ruột của Holm để gây chia rẽ rồi đuổi Holm ra khỏi hội thánh! Tín đồ David Draper 40t cũng bị "phạt" như thế nhưng thay vì hợp tác với CQ như Holm để truy tố thủ phạm thì đã tự tử chết thê thảm. Tín đồ nạn nhân khác như Isaac Wyler thì tố cáo bằng thư nặc danh vì vẫn còn sợ uy quyền của Warren.

Các nạn nhân thường có tên họ giống nhau vì là con của các "thánh" già. Nhiều trường hợp cả mẹ lẫn con, các chị em ruột, chị em họ đều là vợ của các "thánh" già này nên phải dùng first name để dễ phân biệt. Họ khó thoát khỏi tay các "thánh" vì vòng vây của "cảnh sát tôn giáo" rất rộng tựa đạo Hồi. Tuy nhiên khác với đạo Hồi ở chỗ: CS đạo Hồi lãnh lương của giáo quyền (hoặc CQ Hồi giáo như Iran, Saudi) để kiểm soát tín đồ và bắt kẻ vi phạm luật Sharia'h; còn CS đạo Mormon lãnh lương của CQ thành phố hay quận hạt nhưng bị chi phối ngầm bởi giới giáo sĩ để phục vụ cho hội thánh Mormon không lương; ngõ hầu được thêm "tip" từ hội thánh và bảo vệ được quyền lợi "đa thê" đang được hưởng! Tuy nhiên khi CQLB vào cuộc, các cảnh sát viên này đã bị bãi chức với đủ bằng chứng. Bàn tay nội ứng của Warren đã bị khóa chặt và y ngày càng bị cô thế.

Để tránh mang tiếng đàn áp "tôn giáo" FLDS khiến gây ra "pháp nạn" như hồi 1953, các chính quyền liên bang, Utah và Arizona nay dùng kinh tế và luật pháp để đưa các "thánh" hiếp dâm trẻ vị thành niên này vào "nằm nhà đá" cho thiên hạ thái bình hạnh phúc. Trước hết, quĩ UEP (United Effort Plan) hàng trăm triệu của FLDS bị phong tỏa. Hai quan tòa LB Denise Lindberg và Robert Adkin ra lệnh đóng băng tài sản $107 triệu do Warren Jeffs và 5 "thánh" khác làm chủ; giao cho kế toán gia công cộng Bruce Wisen quản lí. Sau khi cắt hầu bao FLDS xong, cảnh sát trưởng Matt Smith hôm 9/6/2005 đã tiến hành truy tố "tiên tri" Warren Jeffs và 8 "thánh" khác của hội thánh FLDS về tội hành hạ tình dục, cưỡng hiếp và mưu toan hiếp dâm trẻ vị thành niên sau khi có đơn tố cáo của 2 nạn nhân Candi và Engels Shapley. Ngoài hai chị em Shapley trước đó, nạn nhân Janetta Jessop 17 tuổi cũng đã gọi cầu cứu chị ruột Suzanne. Suzanne đã nhờ công tố viên Gary Engels do Mohave County mướn để bảo vệ.

Khi đã biết mình bị truy tố, Warren trốn tránh rất kỹ. Y đưa một số vợ con đến trốn ở Williamburg, Colorado hẻo lánh chỉ có 735 dân cư rồi giao cho vợ chồng tín đồ trẻ Vivian và Wendell Musser đến hầu hạ. Thám tử Sam Brower qua ống nhòm dạ quang có thấy bóng cao gầy của y trong đền FLDS ở Texas hôm 5/4/2005. Công tố viên Gary Engels thuyết phục được Candi, chị em của Tammy Shapley tiết lộ 7 vụ hôn nhân cưỡng bức gái dưới 18 và 1 vụ 15 tuổi trong hội thánh. Ông nhờ thẩm phán Mark Shurtleff giúp đến các bảo sanh viện truy tìm giấy khai sinh và DNA của các nạn nhân để có chứng từ. Warren thường hẹn gặp Wendell ở Walmart; sai đem máy may và các túi tiền nộp "cúng dường" của tín đồ khờ dại chở đi gởi nơi bí mật ở Utah và Wyoming; còn các cô vợ trẻ của y thì chở đi "cất" ở West Cliffe, Colorado. Trên đường bôn tẩu lao đao thế mà y vẫn ra oai: "tịch thu" vợ con của Wendell về tội trên đường đi "công tác", Wendell đã ghé quán rượu để cho say khiến bị CS bắt! Seth Jeffs thay Wendell lái xe Ford từ Colorado đi Texas để giao $142,000 tiền mặt, $7,000 credit, cần sa và bài giảng cho Warren; rủi thay lại bị CS bắt vì lái xe cẩu thả hôm 28/10/2005. Đúng là "họa vô đơn chí" và hết thời!

Thám tử Sam Brower lùng sục hơn 100,000 dặm mà vẫn chưa tìm được Warren nên hai thẩm phán tiểu bang Shurtleff và Goddard phải treo giải $10,000. FBI vào cuộc tăng giải thêm $40,000 nữa là $50,000; rồi hôm 6/5/2006 tăng lên $100,000. FBI cũng bố ráp hàng trăm căn nhà của tín đồ ở Lakewood, CO về tội trốn thuế hôm 10/5; phạt hãng PCC $10,000 về tội mướn trẻ em lao động. Các bé trai 10-11 tuổi trong hội thánh bị buộc lao động 8-9 giờ mỗi ngày không lương cùng cha chúng, vi phạm luật lao động liên và tiểu bang. FBI cũng bắt thị trưởng Terrill Johnson của Colorado City vì đã toan đứng tên chủ quyền xe để cho Warren dùng. Các bị cáo đồng lõa của Warren đều bị bắt; ra tòa và lãnh án tương xứng: Fisher, Nica và Don Barlow, James Allred, Leroy Timpson, Leroy Jeffs, Benjamin Nielsen và F.M. Jessop!

CQLB nay có thêm người hợp tác: Kim Nuttall, chuyên gia về luật hình sự, Nancy Perkins của báo "Desecret Morning News" tung tin gây chấn động toàn quốc và quốc tế khiến Warren Jeffs trở thành 1 trong "10 most wanted criminals". Nhờ thế, hai nạn nhân Laura C. Mackert (bị anh và cha ruột hiếp dâm từ nhỏ, bị ép lấy George; sau ly dị và trở thành chính trị gia chống FLDS; từng ra trước thềm tòa quốc hội Utah tố cáo Thống đốc Mike Leavitt bao che FLDS và chế độ đa thê) và Sarah Cooke đã được LHQ mời thuyết trình về nữ quyền hồi tháng 3/2002. Elaine Tyler lập hội từ thiện Hope hồi tháng 3/2004 ở Utah cứu hàng ngàn nạn nhân của FLDS. Bà làm việc 40-60 giờ/tuần không lương. Bà nói 1 phụ nữ trốn thóat khai có 428 anh chị em ruột; con của các "thánh" già nua dâm dật. Ngày cũng càng có thêm nhân chứng: Ross Chatmin (bị cướp vợ Lori và tài sản hồi tháng 1/2004), Johnny Jessop 13t, Flora Jessop, Sarah Hammon (có 74 anh chị em và 19 bà mẹ; năm 2002 trở thành thư kí một công ty real estate; đã lên đài CNN tố cáo FLDS), Lamont Barlow (chồng sau của Elissa Wall), Elissa Wall (bị Warren ép lấy Allen Steed lúc mới 14 tuổi).

Sau khi việc dời "giáo đô" về Texas hoàn tất, các đài CNN, NSNBC, FOX . . . đều bình luận rằng Warren sẽ cố thủ trong tòa thánh thất kiên cố suốt đời; không thể bị bắt vì CQLB cũng muốn tránh một vụ Waco thứ hai ("giáo chủ đạo Davidson" bị FBI thời Clinton bao vây không lối thoát đã hủy thánh thất tự sát cùng tất cả tín đồ trong đó). Tất cả đều đoán sai! Hôm 28/8/2006 lúc 9:04 tối, cảnh sát viên Eddie Dutchover vô tình chận chiếc Cadillac trên xa lộ I-15 từ Las Vegas đi về hướng bắc. Lí do: bảng số tạm bị khung che mất chi tiết. Xe có đăng bạ ở Iowa. Bảng số tạm do John Wayman đứng tên. Tài xế tên Isaac Steed. Một cặp ngồi băng ghế sau: Đàn ông già đang ăn bằng nĩa nhựa; không cho biết tên nhưng hồi hộp đến độ gân cổ phập phồng trông thấy! Viên CS hỏi tài xế có chở vũ khí hay ma túy không rồi sau khi Steed kí giấy thuận cho khám xe lúc 9:30, nhiều tang chứng hiện ra: $6,000 tiền mặt, $10,000 debit, $2,000 check và nhiều thứ khả nghi: 8 bộ chìa khóa xe, radar, GPS, police scanner, laptops . . .khả nghi nhất là danh sách người và địa chỉ các nơi trốn tránh ở miền Tây.
Dutchover gọi thêm 2 CSV Rorell Owens và Shawn Martin. Martin gọi một FBI từ Las Vegas đến hỏi tên. Biết bị lộ, Warren thú nhận rồi bị gọi ra còng tay. Tài xế và cô gái trẻ được thả. Warren bị bắt vào xe tuần cảnh chở về nhà tù Las Vegas lúc 11:23 đêm. Engels vào gặp y trong tù. Y nói biết ông là "Gary" và "tha thứ những gì ông đã gây" cho y. Y khẳng định phải có luật sư thì mới khai. Warren được chuyển về nhà tù Purgatory bằng trực thăng. Y mướn 3 luật sư giỏi chuyên môn: Richard Wright, Walter Bugden, Tara Issacson và ra tòa ở St George City, quận hạt 5 hôm 27/9/2006. Quan tòa James Shumate được 8 nhân viên công lực bảo vệ bên trong; không kể bên ngoài tòa án. Em trai thư kí riêng Nephi Jeffs của bị cáo được vào thăm 3 lần/1tuần/1giờ. Trong tù, Warren nhịn ăn vì sợ đồng tù đầu độc; nhịn tắm vì sợ bị gay hiếp dâm. Thân còn da bọc xương. Tinh thần y xuống dốc: dù thắng phiên này vẫn còn mấy phiên tòa khác chờ đợi y ở Arizona, Utah và liên bang. Tóm lại hy vọng tự do rất mong manh!

Hôm 24/1/2007, Warren qua phôn nói với tín đồ; thú nhận đã "phạm tội" với một em gái và con gái mình. Y gặp anh em trai Nephi vào thăm và thú nhận thêm tội lỗi rồi kết luận mình không phải là "tiên tri" và đã "bị lừa dối bởi sức mạnh của ma quỉ"! Y bảo Nephi hãy gởi băng thu âm này cho tín đồ nghe rằng y "không phải tiên tri và chưa bao giờ là tiên tri" cùng "lời xin lỗi từ tận đáy lòng" rằng y là "tên phù thủy xấu xa nhất hành tinh" và "ngay cả kẻ bỏ đạo và vô đạo cũng biết tôi là đứa nói láo"! Y nói thương em Nephi và chào từ biệt trước giờ qui định. Warren đập đầu và thân vào tường cho đổ máu và định treo cổ tự tử hôm 28/1/2007 nhưng bất thành vì bị canh chừng 24/24.

Luật sư của y cho dời phiên tòa 9/2 về Salt Lake City cách đó 270 dặm để tránh thành kiến vì thăm dò cho thấy ở đấy chỉ có 39% dân chúng nghĩ y có tội; so với 52% tại đây. Trong phiên tòa cuối tháng 3, với sức khỏe kém không đứng nổi thế mà đột nhiên y đứng bật dậy xin quan tòa cho y đưa mảnh giấy; nhưng quan tòa Shumate từ chối cầm; bảo y đưa cho luật sư của y rồi ngưng phiên tòa và ra về. Y cũng xin họp báo để đọc mảnh giấy ấy nhưng bị cảnh sát trưởng Mary Reap từ chối. Tuy nhiên, một phóng viên tờ Desecret Morning News đã nhanh tay chụp hình được 2 dòng thủ bút của y viết "tôi không phải tiên tri; tôi chưa từng là tiên tri". Tín đồ cuồng tín tại YFZ Ranch ở Texas biết tin này nên đã mở đèn nhà thờ sáng trưng để "tang"; tựa chi nhánh Shii'ah của đạo Hồi vẫn để tang con rể Ali của Muhammad vậy!

Nếp sống Mormon khép kín của TK 19 ở Colorado City và Hilldale nay dần trở lại bình thường. Quán xá mở ra và trẻ con tung tăng trong các sân nhà. Có 700 người reo mừng tự do đã đến! Wendell Nielson thay Warren cai quản hội thánh một cách dễ thở hơn qua một hội đồng quản trị gọi là "Quorum of The 12 Apostles". Các gia đình được phát giấy chủ quyền nhà đất; tài sản bị FLDS tịch thu được trả lại cho khổ chủ. Một số tín đồ bị Warren đuổi đã trở lại. Thân nhân bị phân tán nay được đoàn tụ. Thiệt hại vật chất được bồi thường thỏa đáng. Một số cuồng tín trung thành đã dọn về cơ sở ở Texas với hy vọng vị "tiên tri" sẽ ra tù và lại nắm quyền giáo chủ như xưa; tựa nhánh Hồi giáo Shii'ah dọn về Iran và Iraq chờ Ali trở lại vậy!!

TNS Harry Reid, một tín đồ Mormon LDS không ra ứng cử nhiệm kỳ nữa 2016, đã từng yêu cầu bộ tư pháp Mỹ truy tố Warren hồi đầu năm 2006. Phiên sơ thẩm diễn ra hôm 21/11/2006. Hai chị của Elissa là Teresa và Rebecca khai rồi đến phiên cô. Cô khóc đến run rẩy khiến mọi người xúc động khi kể về tai ương xảy ra hồi 14 tuổi do lệnh của bị cáo. Chánh án định ngày 23/4/2007 sẽ tuyên án. Tòa đình hoãn vì bị cáo thiếu sức khỏe tâm thần. Công tố viên lo ngại bị cáo có thể tạo hiện tượng giả điên để tránh vào tù. Chuyên viên Eric Nielsen của "Associated Behavior Consultants" ở Holladay, Utah kết luận: Warren chỉ bị trầm cảm vì lo sợ điều bí ẩn nào đó của mình bị phát giác làm hại mình. Do đó, quan tòa tuyên bố y đủ sức khỏe và định đầu tháng 9 để chọn người cho bồi thẩm đoàn phiên tòa sắp tới. Tháng 5/2007, Warren bị buộc 22 tội danh ở Utah, Arizona và Mohave County. Quan tòa Shumate ra lệnh cho y nội trong 1 tuần phải giúp Musser đoàn tụ với con trai Levi; bằng không, hội thánh FLDS phải trả mỗi ngày ít nhất $600 cho thám tử tư đi tìm vợ con nạn nhân bị Warren phân tán.

Trong 300 người được phỏng vấn hôm 7/9/2007 để chọn bồi thẩm đoàn, có 50 người được chọn làm bồi thẩm hôm 10/9. Hôm 11/9/2007 là ngày chọn bồi thẩm đợt hai cũng là kỷ niệm 6 năm biến cố Hồi giáo khủng bố. CQLB không cung cấp nội dung trong laptops của Warren nên Engels cũng không truy tố thêm tội ác của y. Tòa bác 4 bồi thẩm, giữ lại 8; trong đó 3 là tín đồ Mormon LDS. Bồi thẩm đoàn đã bỏ phiếu phán quyết: Warren Jeffs phạm 2 tội đồng lõa hiếp dâm và mưu toan làm chuyện phạm pháp ấy ở Utah. Tòa tuyên án hôm 20/11/2007: Warren Jeffs lãnh 2 án tù từ 5 năm đến chung thân thi hành liên tục và bị phạt $37,000. Warren ngoan cố không nhận tội và tỏ ra không hối hận nên bản án phải xử theo đề nghị của công tố viên Ryan Shaum. Nhà "tiên tri" Warren Jeffs bị bốc bằng trực thăng đến thẳng nhà tù Utah State Prison ở Draper. Tòa án Arizona và tòa án liên bang thì đang chờ "tiên tri" thụ án tù tối thiểu 10 năm ở Utah để truy tố tiếp nhiều tội danh khác. . .
Hôm 11/9/2007 dịp tòa án lập bồi thẩm đoàn xét xử "tiên tri" Warren Jeffs; trùng vào dịp kỷ niệm 6 năm biến cố Hồi giáo khủng bố 11/9/2001 và 150 năm biến cố Mountain Meadows 11/9/1857, khoảng 400 người đã đến đài kỷ niệm ở St. George City để tưởng nhớ 121 nạn nhân trong vụ tàn sát. Trong dịp này, chủ tịch Henry B. Eyring của LDS đã phát biểu tại nghĩa trang rằng ông "hối hận tận đáy lòng" về những gì hội thánh của ông đã gây ra cho nạn nhân và gia đình; và rằng vụ tàn sát đã "xa hẳn giáo huấn của TCG không thể chối cãi". Bà Lora Tom đã thay mặt thổ dân bộ lạc Paiute Nation nói: "không ai nghi chúng tôi trong vụ này suốt 150 năm qua"!
Hiện nay 2015, tiểu bang Utah có khoảng 60% dân chúng theo đạo Mormon LDS, 80% công chức và bản thân Thống đốc Gary Herbert đều là tín đồ Mormon. Cựu ứng viên TT Mỹ Mitt Romney là nhà tài trợ lớn cho hội thánh LDS ở đây. Nước Mỹ tôn trọng tự do tín ngưỡng nhưng không nhượng bộ các hành vi phạm pháp của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào như ở châu Âu. Trợ cấp xã hội cũng không phân phát vô điều kiện và thiếu kiểm soát như ở châu Âu. Do đó, an ninh được bảo đảm sau vụ Hồi giáo khủng bố 11/9/2001. Bài học Warren Jeffs cho thấy chỉ có cơ chế chính phủ thế tục tam quyền phân lập do dân bầu; độc lập với giới giáo sĩ các tôn giáo (không đồng lõa như ở các nước Hồi giáo); với sự hợp tác của chính các nạn nhân can đảm và quyết tâm mới có thể chấm dứt tội ác; Dục Vọng núp dưới danh nghĩa thần thánh mới có thể bị lột trần.

Một Warren Jeffs đã bị hạ nhưng còn vô số "tiên tri" khác; nhất là các "tiên tri con" lấy danh nghĩa đạo Hồi hiện nay vẫn còn hoành hành ghê gớm giết người khắp nơi; lấy thủ đoạn khủng bố để truyền bá luật "Shari'ah" sắt máu ác độc hầu mưu toan thống trị cả loài người. Vụ mới nhất xảy ra tại Culwell Curtis Center ở Garland, TX hôm chủ nhật 4/5/2015 súy‎t trở thành một cuộc tàn sát kiểu Charlie Hebdo thứ 2 chống lại tự do tư tưởng và ngôn luận. Như lời vàng thước ngọc của đại văn hào Nga nêu trên, "chánh" đạo hay tà đạo, "chánh" trị hay "tà" trị tùy thuộc vào tôn giáo hay chế độ ấy chủ trương cống hiến hay cướp đoạt. Chưa kể đến các yếu tố hiếu sanh hay hiếu sát, vị tha hay vị kỷ, hỷ xả hay thù hận, giải thoát hay nô lệ. Warren đã chọn lầm đất để dụng "võ". Giả như ngay cả kiếp sau dù được tái thế ở Trung Đông để làm "tiên tri con" như tên khủng bố al-Baghdadi của Quốc Gia Hồi giáo thì y cũng chẳng thể làm mưa làm gió được vì thời thế và trí tuệ con người lúc đó cũng đã đổi! Vụ tàn sát do một băng đảng đầy dục vọng ô uế núp danh nghĩa tôn giáo đã bị pháp luật liên bang Mỹ điều tra và trừng trị; tay sai Lee đã đền tội thay thù phạm chính. Băng đảng FLDS của bọn Warren Jeffs và F.M. Jessop nối nghiệp đã bị trừng trị. Loài người văn minh sẽ đưa các imams đồng minh đa thê tàn ác hơn gấp vạn lần Warren và Jessop ra tòa công lí xét xử sau khi mặt nạ "tôn giáo" của chúng bị lột trần.

Vụ "Thích Minh Tín aka Thích Nhuận Thành" (VC Lê Nhật Tiến) có vợ 2 con tại địa phương đã cướp đoạt tiền bạc Phật tử để sinh sống và làm kinh tài cho Việt Cộng tại chùa Thiên Đức ở West Valley hồi 2013; trớ trêu thay đã bất ngờ bị lộ tẩy và bị đuổi cũng tại Salt Lake City, Utah này! Tuy tầm vóc không lớn, bản chất và tội danh không tương tự như vụ Warren Jeffs nhưng lí lẽ mà đại văn hào Nga đã viết trên quả đã chứng minh một chân lí mộc mạc: Khi ngươi cướp tất cả của họ thì họ không thể ngồi yên!

HÀ BẮC
(tham khảo tài liệu của Juanita Brooks, Stephen Singular, Donna Hill và các tài liệu khác)

Saturday, June 20, 2015

Nỗi Niềm Quốc Hận

I- Một số bối cảnh lịch sử có liên quan đến bài viết: 
- Vua Lê Thánh Tông mở mang bờ cõi: Năm 1471, vua Chiêm Thành là Trà Toàn, đem quân đánh phá Hoá Châu. Vua Lê Thánh Tông thân chinh, tiến quân đánh tới Đồ Bàn, bắt được Trà Toàn. Tướng Chiêm là Bồ Trì chạy đến đất Phan Lung, sai sứ nạp cống và xưng thần. Lê Thánh Tông chấp thuận và muốn làm cho nước Chiêm Thành yếu đi, nên đem chia thành 3 tiểu quốc: Chiêm Thành, Nam Hoa (nay Phú Yên) và Phan Lung (nay Phan Rang). Miền Bắc Tây Nguyên là hai tỉnh Kon Tum và Pleiku (Gia Lai ngày nay) được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương. Còn đất Đồ Bàn, Đại Chiêm và Cổ Luỹ, vua lấy để lập thêm đạo Quảng Nam, gồm có 3 phủ, 9 huyện, rồi đặt quan cai trị. 
Từ giây phút này, Việt Nam tan hoang… Photo courtesy: www.telegraph.co.uk
- Vua Quang Trung lo lường đất nước: Vua Quang Trung cho vẽ lại bản đồ Việt-Hoa để rửa hận nghìn thu là đất đai Đại Việt bị mất vì phương Bắc xâm lấn. Việc này có thể xảy ra việc binh đao, nên nhà vua tính chuyện đánh Thanh, đã cho quấy rối nội địa Trung Hoa bằng cách lợi dụng (giúp) đảng “Thiên Địa Hội” là những chí sĩ của nhà Minh thuộc giống Hán không phục triều Thanh, bí mật tổ chức tính xoay lại thời thế. Các biên thần nhà Thanh tuy biết Đại Việt đã bí mật nhúng tay, nhưng cũng phải bấm bụng chịu, vì thấy lực lượng quân sự nước ta đang phát triển mạnh. Nhưng ngày 29 tháng 7 năm Nhâm tý (16-9-1792 DL), vua Quang Trung đột ngột băng hà nên công cuộc phát triển đất nước đành dở dang?! 

- Tỉnh Lai Châu gộp vào Hoàng triều cương thổ: Tỉnh Lai Châu có diện tích 18.630 km vuông. Dân số năm 2011 là 926.500 người. Sắc dân: Kinh, H’ Mông, Thái, Dao... Tỉnh Lai Châu thuộc vùng tây bắc nước Việt Nam, phía bắc giáp nước Tàu (tỉnh Vân Nam). Năm 1948, Lai Châu thuộc Khu tự trị Thái trong Liên bang Đông Dương, đến năm 1950 thì gộp vào Hoàng triều cương thổ của Quốc trưởng Bảo Đại. Tỉnh Lai Châu vào ngày 26-11-2003, tách ra làm 2 tỉnh là: Tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên ngày nay. 
- Diễn tiến vùng đất Tây Nguyên và tổ chức Fulro: Cao nguyên Trung phần Việt Nam còn gọi là Tây Nguyên, ngày nay gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Vùng đất Tây Nguyên ngày xưa vốn là vùng đất tự trị, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh, mạnh nhất là bộ tộc người Gia Rai với các vị tiểu vương Thủy Xá, Hỏa Xá;  thỉnh thoảng họ bị vương quốc Champa ở phía đông và Chân Lạp ở phía tây tấn công cướp bóc và bắt nô lệ, có lúc một phần đất của Tây Nguyên thuộc về Ai Lao. Bộ tộc ở Tây Nguyên có khi triều cống chúa Nguyễn Đàng Trong. Đến năm 1830, vua Minh Mạng cho sáp nhập vùng đất Tây Nguyên vào bản đồ Đại Nam. Ngày 27-5-1946, Cao ủy Đông Dương là Georges d’Argenlieu ký văn bản thành lập “Xứ Thượng Nam Đông Dương” (Pháp gọi là: Pays Montagnards Du Sud Indochinois: PMSI), xem như người Thượng Tây Nguyên được tự trị. Đến thời Quốc gia Việt Nam, Xứ Thượng Nam Đông Dương được trao lại cho Quốc trưởng Bảo Đại dưới tên gọi Hoàng triều Cương thổ. Thời Thủ tướng Ngô Đình Diệm lại sát nhập: Đồng Nai Thượng, Lang Biang, Pleiku, Darlac, và Kontum vào Trung phần Việt Nam.
Vùng Tây Nguyên có tổ chức FULRO là tên gọi tắt của tiếng Pháp: “Front Uni de Lutte des Races Opprimées”, có nghĩa là “Mặt trận thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức”. FULRO muốn vùng đất Tây Nguyên gồm các nơi: Pleiku, Kon Tum, Đà Lạt, Đăk Lăk, Lâm Đồng được tự trị, nên chống lại chính quyền từ thời VNCH và đã ngấm ngầm cho đến ngày nay. Theo đài BBC trong bài “Nhìn lại phong trào BAJARAKA”: Năm 1957 một số trí thức người Thượng đã phản đối chính sách phân biệt đối xử người Thượng trên cao nguyên với chính quyền. Đến năm 1958, họ thành lập tổ chức BAJARAKA, đấy là chữ viết tắt của tên bốn dân tộc chủ yếu tại Tây Nguyên: Bahnar (người Ba Na), Djarai (người Gia Rai), Rhadé (người Ê Đê) và Kaho (người Cờ Ho), họ vận động dân chúng Thượng chống lại chính quyền miền Nam (Hết trích). Cờ FULRO hình chữ nhật gồm ba sọc màu xanh biển (tượng trưng biển cả), màu đỏ (biểu tượng đấu tranh) và màu xanh lá cây (màu của rừng núi). Trên sọc màu đỏ có ba ngôi sao màu trắng tượng trưng cho ba mặt trận của Fulro là: Champa, Thượng và Campuchia Krom. Năm 1979, Fulro nhờ Sư đoàn 920 của Pôn Pốt đóng tại tỉnh Mondunkiri (Campuchia). Được Pôn Pốt yểm trợ, Fulro đã đưa khoảng 200 người có khả năng sang lập căn cứ tại biên giới Việt-Miên để huấn luyện, nhận vũ khí và thiết lập hành lang Tây Nguyên-Campuchia. Sau đó, các thành viên Fulro đột nhập vào các thành phố, thị xã của các tỉnh Tây Nguyên, để khủng bố, ám sát cán bộ rồi rút sang bên kia biên giới.
II- Gậy ông đập lưng ông:  
- Công hàm hàm hồ của thủ tướng Phạm Văn Đồng là thủ tướng miền Bắc VN: Công hàm ký ngày 14-9-1958, để phúc đáp tuyên bố của Trung cộng vào ngày 04-9-1958, Trung cộng coi đấy là “cơ sở pháp lý” hậu thuẫn cho lý lẽ của họ trong việc tranh chấp biển đảo ở biển Đông với Việt Nam. Chính quyền Hà Nội chỉ còn bám víu vào VNCH là vào thời điểm ấy vùng biển đảo này thuộc về miền Nam Việt Nam mà thôi?! 
- Bô xít Tây Nguyên và vụ cấm đạo tại Tây Nguyên:Chính quyền CSVN để Tàu khai thác bô xít và cấm đạo tại Tây Nguyên, đã gây cho người dân Tây Nguyên giận dữ và oán hận, nếu có cơ hội thì họ sẽ bùng phát rất dữ dội, như lực lượng FULRO vẫn còn ngấm ngầm.  
- Đông đảo đồng bào H’Mông phản đối CSVN: Đất nước đang gặp khó khăn vì chính quyền cộng sản Việt Nam (CSVN) thiếu sáng suốt đã dùng điều 258 Bộ luật Hình sự, là điều luật thường được sử dụng để đàn áp quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng của toàn dân Việt Nam. Gần đây đã dùng điều 258 buộc tội nhiều người H’ Mông, vì vậy vào ngày 20-03-2014, cả 1000 đồng bào H’Mông đã kéo về tòa án ở Hà Nội để đòi tự do cho các bị can?!
Đất nước Việt Nam đang gặp khó khăn chồng chất, thế mà chính quyền Hà Nội lại không chịu sửa sai, vẫn dùng lối cai trị “Hà chính mãnh ư hổ” (chính sách hà khắc khốc hại hơn hổ), thì chế độ này chắc chắn sẽ phải xung đột tàn khốc, quyết liệt giữa toàn dân Việt Nam và chính quyền (công an) mà thôi!  
  
III- Khi xung đột đồng loạt, quyết liệt giữa toàn dân và chính quyền (công an) thì hiện tượng nào có thể xảy ra: 
Chúng ta thử suy nghĩ trong khi và sau khi chế độ CSVN sụp đổ thì những hệ lụy nào sẽ xảy ra trên đất nước và dân tộc Việt Nam là điều nên suy nghĩ kỹ?! 
- Trong số các nhân vật Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta có thể tin tưởng có bao nhiêu nhân vật còn nghĩ đến đồng bào, đất nước và có bao nhiêu nhân vật chuẩn bị khi có biến cố lớn thì sẽ lộ nguyên hình Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... đấy là những tên mãi quốc cầu vinh, sẽ khom lưng cúi đầu cầu xin quân đội của Trung cộng sang nước ta để khống chế nhân dân ta đang đòi công lý, tự do, nhân quyền...?! 
- Dù rằng kể từ tháng 2-1999, Giang Trạch Dân của Trung cộng đã tròng được vào đầu Lê Khả Phiêu cũng như các nhân vật đang lãnh đạo CSVN cái vòng kim cô bằng 16 chữ mạ vàng “Sơn thủy tương liên; Lý tưởng tương thông; Văn hóa tương đồng; Vận mệnh tương quan” (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Nhưng lòng tham của Trung cộng vẫn chưa chịu ngừng ở đó, mà muốn chiếm trọn lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam, giai đoạn đầu chúng đưa người đến VN chiếm lĩnh nhiều vùng đất quan trọng như: Tây Nguyên (Bô xít Đắc Nông), Hà Tỉnh (phố Tàu huyện Kỳ Anh), Quảng Trị (Cửa Việt)... đấy là đạo quân xâm lăng không tiếng súng hay cuộc xâm lược mềm. Mưu mô quỷ quái này, chính quyền Tàu cộng đã/đang cho tiến hành khắp lãnh thổ Việt Nam, được sự tiếp tay của những thái thú Tàu gốc Việt tại Hà Nội?! 
- Mong mỏi người Việt lưu ý, Trung cộng cố tình đầu tư vào huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) và Cửa Việt (Quảng Trị) là có ý đồ chiếm giữ nơi hiểm yếu, nơi hẹp nhất ở giữa nước VN; địa hình rõ ràng ở giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị là tỉnh Quảng Bình, mà ở tại thành phố Đồng Hới khoảng cách từ bờ biển đến biên giới nước Lào chỉ có 50 km. Nên khi Trung cộng phát động xâm lăng VN, quân Tàu từ biển tiến vào từ Lào đánh xuống, sẽ cắt nước ta làm hai để khống chế dễ dàng?! 
IV- Tình huống và mưu mô của Trung cộng xâm lăng VN bằng cách nào?!: 
Một khi toàn dân VN đồng loạt vùng dậy lật đổ chế độ độc đảng độc tài, thì các nhân vật như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... sẽ xuất hiện, từ các nhân vật đầu não trong trung ương đảng CSVN, sẽ qua Tàu cầu cứu quân Tàu sang VN đàn áp nhân dân ta, để chúng giữ lại cái ghế thái thú mà chúng cho là béo bở?! Quân Tàu luôn sẵn sàng và hăm hở tiến qua nước ta là vì sao, là vì Tàu cộng mong muốn chiếm VN hơn bất cứ nước nào, vì nước VN nằm sát nước Tàu sẽ xóa biên cương dễ dàng, vì VN có biển Đông rộng mênh mông mà ở đấy có dầu khí dồi dào, mà ở đấy Tàu cộng đang khao khát làm chủ biển Đông, Thái Bình Dương, để đủ khả năng cân bằng tiềm lực hải quân với Hoa Kỳ. Nên VN đối với ý đồ tham lam và bành trướng của Tàu thì quan trọng hơn khu tự trị Tân Cương hay Tây Tạng mà Tàu đã chiếm được. Đúng như nhà Thái dịch Lý Đông A đã thiết tha nhắn nhủ đồng bào: “Chúng ta hãy quay về mình xem hình thể của tự mình. Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về tự thủ muôn thuở, bất cứ trên chính trị, quân sự, kinh tế, chiến lược, văn hóa đều đứng vào thiên hiểm của trung tâm”. Dù không có Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống (thời nay) qua cầu cứu Tàu, Tàu cũng đã/đang rình rập xâm lăng VN, với mưu mô gian dối là đem quân để bảo vệ Hoa Kiều tại Việt Nam khi có biến cố, như đầu sỏ Putin của Nga đã chiếm bán đảo Crimea.
Khi có cơ hội, có thể chính quyền Tàu sẽ giúp cho lực lượng FULRO ở Tây Nguyên, giúp người H’Mông người Thái ở tỉnh Lai Châu và các tỉnh miền cao nguyên vùng Việt Bắc, mà các sắc dân này đã/đang căm hận CSVN vì đã đàn áp và bóc lột họ. Quân Tàu muốn làm sao cho VN yếu đi, như vua Lê Thánh Tông đã làm cho nước Chiêm Thành yếu đi, bằng cách đem chia thành 3 tiểu quốc: Chiêm Thành, Nam Hoa và Phan Lung. Và như vua Quang Trung đã lợi dụng (giúp) đảng “Thiên Địa Hội” của bọn quan lại cũ nhà Minh để quấy rối nội địa Trung Hoa mà nhà Thanh đang cai trị.  
Quân Tàu làm vậy với mục đích là gây cho chính quyền thái thú bị rối ren để quân xâm lược Tàu cai trị trực tiếp các vùng đất này, trước khi xâm chiếm toàn bộ nước ta và sai khiến chính quyền thái thú dễ dàng hơn! Nếu cần, quân Tàu sẽ cho bỏ phiếu lọc lừa dưới họng súng lạnh lùng của quân xâm lược Tàu hay quân của thái thú Tàu gốc Việt, như tổng thống Putin của Nga đã chiếm bán đảo Crimea của quốc gia Ukraina, biết rằng đây là một mưu mô xảo trá, nhưng quân xâm lược này muốn việc léo lắt xấu xa ấy là việc đã rồi, như người Việt mình có câu: “Gạo đã nấu thành cơm” thì còn làm gì được nữa?!. Cựu tổng thống Ukraina là Viktor Yanukovych nhục nhã quy lụy ngoại xâm đã lủi thủi theo Nga, do đấy mà bán đảo Crimea của Ukraina mới bị Nga chiếm; bây giờ Nga khinh khi và xem nhẹ Yanukovych; con bài Yanukovych nếu Putin còn dùng cũng chỉ để làm bù nhìn để tiến chiếm thêm lãnh thổ của Ukraina mà thôi! Yanukovych có hối hận phát bệnh mà chết như Lê Chiêu Thống, cũng không chuộc hết tội lỗi với nhân dân và tổ quốc của mình?!.  

V- Thử nghĩ trong khi và sau khi chế độ CSVN sụp đổ thì chúng ta nên làm gì: 
Càng ngày càng lộ rõ chế độ CSVN từ thành phần lãnh đạo đến cán bộ các cấp đều tham lam, nhân viên ra nước ngoài ăn cắp khắp nơi, đã/đang làm nhục quốc thể!. Trước đây, ngày 18-1-2013, tôi có viết: “Chế độ Việt cộng sụp đổ sớm hơn dự kiến”. Thì nay, thấy rõ hơn chế độ CSVN không thể tồn tại lâu được nữa. Vậy thì, trong khi và sau khi chế độ CSVN sụp đổ, thử nghĩ chúng ta sẽ ứng xử như thế nào?: 
- Người Hoa Kiều tại VN: Người Hoa Kiều, không nên làm hại họ mà phải lắng nghe lời dặn dò của nhà chính trị lỗi lạc Nguyễn Trãi là tiền nhân chúng ta: “Đem đại nghĩa thắng hung tàn. Lấy trí nhân thay cường bạo”. Vì sao, vì nếu làm hại người Hoa Kiều là làm mất đi tinh thần khoan dung của Lạc Việt và tạo điều kiện cho quân Tàu lấy cớ cử binh đến VN bảo vệ Hoa Kiều để xâm lược nước ta. 
- Về Quốc phòng: Trong lúc tình thế rối ren là lúc các nước láng giềng hay ngoại bang sẽ xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải của ta. Như vào năm 1407, quân Minh xâm lược nước ta, Chiêm Thành lợi dụng  nước ta đang nguy ngập, thì đem quân đánh Hoá Châu, quân Minh cũng đang tiến vào Hoá Châu; Đặng Tất là thân phụ Đặng Dung mà có lẽ không ai quên được câu thơ của chí sĩ Đặng Dung: “Nợ nước chưa xong đầu đã bạc; Trăng soi mài kiếm biết bao lần!”; Đặng Tất bị ở giữa hai cánh quân ngoại xâm, nên tạm hàng quân Minh để chống quân Chiêm, Trương Phụ để Đặng Tất giữ chức Đại tri Hoá Châu như cũ; tạm yên phía bắc, Đặng Tất dồn sức chống quân Chiêm, quân Chiêm bị bại phải rút về. 
Vì vậy, chúng ta phải có một lực lượng anh ninh trên toàn quốc để bảo đảm an ninh cho quốc gia và giữ gìn biên cương lãnh thổ. Còn cần có lực lượng an ninh để ổn định tình trạng rối ren buổi ban đầu, vì có thể các đảng phái hoặc các cá nhân sẽ trả thù tàn bạo, như việc “Thảm sát hãi hùng” tại Phú Yên, liền sau khi Việt cộng chiếm Phú Yên vào đầu tháng Tư năm 1975, Việt cộng đã sát hại 125 người vì thù hận! Mà hiện nay các chú em Công an hay cán bộ hạ tầng của chế độ CSVN vẫn là người cùng giống nòi, chỉ trừ một vài tên quá hung hăn và tàn bạo?. 
- Về Ngoại giao: Đối với các nước láng giềng nói riêng và các nước trên thế giới nói chung, trong lúc đất nước đang khó khăn vì chộn rộn là một thách thức lớn về Ngoại giao, đất nước đang khó khăn thì vấn đề ngoại giao rất cần thiết, phải cố gắng hơn phải giành cho được sự hỗ trợ của các quốc gia thiếu thiện cảm với nước Tàu. Như nước Nhật vì Nhật đang căng thẳng với Tàu về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông; nước Ấn Độ, vì Ấn Độ có tranh chấp biên giới với Tàu; nước Mỹ, vì Mỹ và Tàu không hài lòng về quyền lợi của hai siêu cường nhất nhì trên thế giới; các nước ở châu Á đang có tranh chấp về biển Đông với nước Tàu v. v...
- Về Văn hóa: Học hành là điều quan trọng, phải cấp bách biên soạn các sách giáo khoa thích nghi với sự tiến bộ của khoa học, nhất là môn Việt sử đã bị Việt cộng cho giảng dạy sai lạc là bắt học sinh học về chủ nghĩa Marx-Lenin của Cộng sản độc địa và lỗi thời, vứt vào sọt rác văn thơ mất gốc của Hồ Chí Minh hay thơ của văn nô Tố Hữu.... Và còn nhiều vấn đề cần phải thực thi sau khi chế độ CSVN bị lật đổ, như: Xã hội, kinh tế v.v... Đây chỉ là một vài thiển nghĩ của cá nhân, việc quốc gia là việc lớn lao phải nhờ những vị tri thức lỗi lạc, các nhà chính trị sâu sắc bàn bạc kỹ lưỡng để tránh lúng túng trong khi và sau khi chính quyền CSVN sụp đổ?!. 
Để kết luận cho bài này, người viết xin thay vào bằng bốn câu thơ “NỖI NIỀM QUỐC NẠN”: 
NỖI ngại tang thương, khắp núi sông
NIỀM tin nòi giống, thủy chung lòng
QUỐC gia củng cố, phòng quân Hán
NẠN mất nhân quyền, đau đớn trông!
Nguyễn Lộc Yên

Wednesday, May 27, 2015

Tôi bị móc túi ở ‘Kinh Thành Ánh Sáng’‏

Buổi sáng Thứ Sáu lướt báo, mẩu tin “Tháp Eiffel đóng cửa vì nhân viên phản đối nạn móc túi” làm tôi chú ý. Đọc chưa được mấy hàng, khi tim nhói lên, tôi mới biết dư âm của việc chính mình là nạn nhân của nạn móc túi tại thành phố này cách đây chưa hai tuần, vẫn chưa nguôi ngoai.



Tình trạng người chen chúc nhau đứng chờ xe điện ngầm tại Paris là
cơ hội bằng vàng cho những tay móc túi chuyên nghiệp. Paris đứng
hàng thứ 5 trong danh sách 10 thành phố có nạn móc túi 
cao nhất thế giới. (Hình: Miguel Medina/AFP/Getty Images)

Chưa thể nguôi ngoai thì cũng đúng thôi. Ai phải từng bị móc túi, mới hiểu được rằng việc bị kẻ gian móc túi, lấy mất đồ, không chỉ làm nạn nhân mất đi những đồ vật có thể mua lại được bằng tiền, nhưng còn bị lấy mất đi cảm giác hồn nhiên, an toàn, ở một thành phố hoàn toàn xa lạ.
Buổi trưa hôm ấy, tôi và Thao, cậu con trai đi cùng, hân hoan bước ra khỏi trạm Metro ở gần dòng sông Seine, gần chiếc cầu pont de Bir-Hakeim, xuất hiện trong phim “Inception” mà Thao rất mê, nên muốn đến xem cho bằng được. Vừa vui vì sau giấc ngủ vùi tiếp theo chuyến bay dài mười mấy tiếng, đây là buổi rong chơi đầu tiên của chúng tôi ở thành phố này. Vui vì được nơi mình muốn đến, và vui hơn nữa vì chúng tôi hãnh diện đã nhìn bản đồ metro, tự đưa mình đến đích, mà không phải tốn tiền leo lên những chuyến xe buýt hop-on hop-off lúc nào cũng chật đầy du khách.
Mẹ máy quay phim, con máy ảnh, chúng tôi vừa đi vừa trầm trồ vì trước cảnh đẹp trước mặt. Cầu pont de Bir-Hakeim dài hút mắt, dòng nước lững lờ, bầu trời trong xanh lấp lánh những sợi nắng nhẹ. Dưới cầu, một hàng thuyền bè đủ màu sắc neo dọc theo bờ. Chúng tôi dự định ngắm cảnh ở đây một lát rồi từ từ đi bộ đến chân tháp Eiffel.
Niềm vui chỉ kéo dài trong khoảng khắc. Đang bước đi, tôi bỗng giật mình nhận ra chiếc xách tay mình vẫn đeo ngang vai nhẹ đi một cách khác thường. Nhìn xuống, một ngăn của túi xách đã bị mở toang, chiếc samsung tablet với những bản đồ, sách hướng dẫn du lịch Paris mà tôi đã cẩn thận tải xuống máy trước chuyến đi, đã biến mất.
Tim đập loạn xạ. Tôi kêu lên:
“Thao! Thôi chết rồi, mẹ bị móc túi rồi. Mất cái tablet rồi.”
Thao từ xa chạy lại, nhìn tôi chưa tin:
“Mất cái gì, mẹ mất cái gì? Mẹ có chắc là mang đi không? Sao họ móc túi mẹ mà mẹ không biết?” Thao dồn dập hỏi.
Không trả lời, tôi nhìn xuống một ngăn khác. Chiếc zipper đã bị kéo toang ra, để lộ passport, vài thẻ tín dụng, và một ít tiền gấp nhỏ lại, giấu phía sau các vé đi metro.
May quá, passport, tiền và thẻ tín dụng vẫn còn nguyên đây. Tôi bớt hốt hoảng, nhưng tim vẫn cứ đập thình thịch trong lồng ngực. Đưa chiếc túi xách cho Thao, tôi đứng vịn vào một thành cầu, không đi nổi nữa.



Hình chụp một cảnh móc túi đang diễn ra, đăng trên website của 
một blogger chuyên viết về du lịch. (Hình: 
www.clevertravelcompanion.com)
 “Nếu mẹ mang tablet đi thì mất thật rồi.” Thao lật qua lật lại chiếc túi sách, rồi chép miệng.
“Mà bị móc túi từ lúc nào, sao mẹ lại không biết?” Thao hỏi đi hỏi lại như chưa chấp nhận được thực tại. Như nếu Thao biết được chính xác là tài sản của tôi đã bị đánh cắp từ lúc nào, thì sẽ cảm thấy an toàn hơn ở thành phố mà chúng tôi đã háo hức muốn đến thăm, khám phá. 
“Nếu biết lúc nào bị, thì đâu có ai gọi là móc túi.” Tôi đáp.
“Chắc mẹ bị lúc mình ở trên metro rồi. Lúc đó đông quá. Thôi mình về lại khách sạn đi, biết đâu mẹ sẽ thấy là tablet còn nằm ở phòng,” Thao đề nghị.
“Chắc 100% là đã mất rồi. Lúc nãy ngồi trong metro mẹ còn lấy nó ra xem bản đồ mà.” Tôi cả quyết, rồi suy nghĩ thật nhanh. Từ khách sạn chúng tôi đã phải chuyển metro mấy lần mới đến được đây. Về ngay bây giờ thì uổng quá. Trời hôm nay đẹp, không mưa lướt thướt như hôm qua, lúc máy bay chúng tôi đáp cánh.
“Thôi mình cứ đi tiếp đi, về khách sạn thì cái gì mất, cũng đã mất rồi.” Tôi thẫn thờ.
Nhìn tôi, Thao ái ngại, “Are you sure? Thôi mình về khách sạn đi mẹ. You don't look OK. Con thì mất hứng đi rồi.”
Ừ, mà chắc phải về khách sạn thật. Tôi chợt nghĩ đến cái app chứa đầy passwords của mọi tài khoản, nhà băng, thẻ tín dụng, email, tất cả những dữ liệu quan trọng, nằm trong tablet vừa bị đánh cắp đó mà lạnh người.
Nếu kẻ cắp mà phá được password của tablet và mở được cái app này, thì cái tôi sẽ bị đánh cắp là danh tánh, và chuyện mất tablet suy ra, sẽ là chuyện rất nhỏ.
“Ừ mình về lẹ đi. Mình đàng nào cũng phải cất passports đi, và mẹ phải thay một số passwords.” Tôi đồng ý.
Chúng tôi thiểu não theo nhau đi trở lại hướng vào metro. Thao bảo, “Từ giờ mẹ luôn luôn phải đi trước con nhe!” Tôi đi trong tâm trạng hốt hoảng tận cùng mà chỉ trước đây ít phút khó hình dung ra được. Tim đập mạnh theo từng bậc thang đưa xuống chỗ đón xe, với tôi giờ đây metro là nơi đồng nghĩa với sự mai phục đầy nguy hiểm.
Lên được metro rồi, chúng tôi ngồi dựa vào nhau trên băng ghế như hai kẻ bại trận. Tôi suy nghĩ miên man. Tâm trạng an vui, thanh thản của một người du lịch hoàn toàn biến mất. Từ đây về khách sạn mất một tiếng hai mươi phút. Nếu kẻ cắp phá được password trên tablet của tôi trong vòng thời gian này, thì nguy cơ bị đánh cắp danh tánh của tôi sẽ tăng lên. Cuộc chạy đua của người tự vệ và kẻ tấn công bắt đầu. 


Bảng cảnh cáo coi chừng móc túi treo ở một cánh cổng 
tòa nhà gần tháp Eiffel. (Hình: 
www.clevertravelcompanion.com)

Xe lao đi vun vút. Tại mỗi trạm ngừng, khi có hành khách lên, xuống, đi gần đến ghế của mình, tôi lại đưa tay ôm khư khư lấy chiếc túi xách giờ luôn đeo trước mặt, nhìn những người bước qua bằng đôi mắt e dè.
Tại một trạm ngừng, một đám đông kéo nhau lên xe. Một chàng nhạc sĩ lang thang leo lên xe vừa đánh đàn vừa hát, đi đến từng hàng ghế chào hỏi. Nhạc hay mà giọng hát thì khá ấm. Nhưng tôi không còn tâm trí nào để thưởng thức. Tôi ôm chặt thêm lấy chiếc túi xách của mình khi chàng ta bước ngang qua. Hình như có một người nào đó vừa cố tình đụng vào tôi? Tôi nhìn người bước qua bằng cặp mắt nghi kỵ. Đúng là một mất mười ngờ. Giờ này người nào quanh mình cũng có thể là người móc túi.
I hate Paris. Tôi nói thầm, rồi lại nghĩ đến cái tablet đã là người bạn đồng hành của mình trong một thời gian dài, những chuyến đi chơi, và nhiều chuyến đi công tác. Điều oái oăm là trong mọi sách du lịch Âu Châu mà tôi tải xuống, cuốn nào cũng cảnh cáo là du khách đến Paris phải hết sức cảnh giác để khỏi bị móc túi, vì dân móc túi ở đây thuộc vào hạng chuyên nghiệp nhất thế giới.
Một tài liệu cẩn thận liệt ra danh sách 10 thành phố mà nạn móc túi hoành hành nhất thế giới. Trong đó, Barcelona, nơi tôi sẽ đi kế tiếp. đứng hàng đầu, Paris đứng hàng thứ 5, và Hà Nội đứng thứ 10. Tài liệu khác đưa ra con số đáng ngại: Một ngày tại Paris có đến hàng ngàn vụ móc túi. Tệ hơn thế, cảnh sát Paris như bất lực trước tệ nạn này, không giúp gì được du khách ngoài việc treo những tấm bảng với hàng chữ “coi chừng móc túi!”
Vẫn biết như thế, nhưng tôi, những cũng giống như nhiều người vô tư khác, không ngờ mình sẽ có ngày trở thành một con số trong thống kê này.
Về đến khách sạn, Thao mở safe bỏ passport của chúng tôi vào khóa lại. Thật đúng là mất bò mới lo làm chuồng. Trong khi tôi mở lab top lo đổi password, Thao xem lại tất cả những khúc phim do chiếc Gopro tôi đeo trên người tự động thu.
Chỉ vào một khúc phim, Thao nói, “Đây, chỗ này, thấy có một người thoáng đi gần vào người mẹ, rồi vượt qua, nhưng không thấy rõ mặt, mà cũng không thấy tay ông ta cầm gì hết. Để con xem lại xem.”
“Thôi chắc là bị lúc ở trên metro rồi. Lúc đó chen chúc ghê quá!” Xem hết những khúc phim, Thao kết luận.
Tôi hiểu nhu cầu cần phải tìm ra lúc nào mình bị mất cắp của Thao. Tìm ra được thì có lẽ thể rút kinh nghiệm, có thể ngăn ngừa được. Còn nếu mất mà không biết mình bị lúc nào thì sẽ cứ hoang mang mãi, và không biết phải phòng ngừa làm sao.
Nhưng tôi đang có việc cấp bách hơn phải lo. Vừa nhìn đồng hồ vừa đổi passwords, vừa lo ghi chú. Tôi đang gấp rút chạy đua với thời gian, không thể để cho kẻ cắp kia làm mình bị tổn hại gì thêm nữa.
Khi tôi vừa xong việc thì cũng là lúc Thao, nãy giờ lúi húi với trang Google, ngẩng lên nói, “Theo thống kê thì kẻ gian phải mất trung bình khoảng hai tiếng mới crack được password của cell phôn hay tablet, nhưng đa số họ tìm cách reset trước khi đem đi bán. Và nếu họ reset thì sẽ không đọc được gì của mẹ.”
Sửa xong được password của email và tài khoản Samsung, tôi vào để đọc email, thì nhận ngay được một thông báo từ tài khoản Samsung, cho biết samsung tablet của mình vừa được cài đặt một app mới, cả tên app lẫn những hàng chữ giới thiệu app toàn bằng tiếng Tàu. Tôi và con đọc không hiểu gì cả.
“Ghê thật, tụi nó đã vào được tablet của mẹ rồi.” Thao nói.
Tôi nhìn đồng hồ. Gần hai giờ đồng hồ sau khi bị móc túi. Nhưng cũng may, việc đổi passwords tạm xong rồi. Tôi thấy tạm yên tâm, đề nghị, “Mẹ xong việc rồi, mình đi tiếp nhé!”
“Thôi, chắc hôm nay mình ở nhà đi quanh quẩn ở quanh đây. Con vẫn đang bị 'traumatized' lắm. Mà mẹ chắc cũng chưa OK đâu!” Thao nói.
Traumatize! Bị tổn thương. Đúng rồi. Thao dùng chữ chính xác lắm. Sự tổn thương vượt qua mọi giá trị vật chất của những thứ bị đánh cắp. Cái tôi mất đi là mất cái cảm giác an toàn, là sứt mẻ chút thiện cảm trước giờ vẫn dành cho một thành phố nguy nga tráng lệ, nơi được mệnh danh là “Kinh Thành Ánh Sáng.”
Nắng chiều, qua rèm cửa sổ của khách sạn, đang len lỏi vào phòng. Buổi tối thứ hai ở Paris sắp trôi đi.
Hà Giang

Thursday, March 19, 2015

Tiệm phở Việt lạc lõng giữa 'làng Đan Mạch'

Solvang, Danish City, California – Một thành phố nhỏ yên bình, cổ kính với những ngôi nhà mái nhọn theo kiểu Bắc Âu, những con đường ngắn với hai hàng cây thẳng tắp dọc bên đường, những cối xay gió to cao...hình ảnh này tưởng chỉ còn trong cổ tích. Thế nhưng, không những không phải cổ tích, mà ở ngôi 'làng Đan Mạch' chỉ vỏn vẹn hơn 5 ngàn người này còn có cả một...quán phở do người Việt làm chủ.

Bảng hiệu bên ngoài tiệm Phở 805. (Hình: Kalynh/Người Việt)
Sau hơn 3 giờ chạy xe dọc theo con đường 101 bên núi, bên biển, thị trấn Solvang hiện ra như một làng quê Đan Mạch của thế kỷ 18. Những con đường nhỏ cắt ngang nhau, đủ rộng để du khách vừa đi vừa thưởng lãm và săn ảnh. Thỉnh thoảng, vài cỗ xe ngựa lọc cọc trên phố, lững thững dừng lại nơi có 'stop sign' ở ngã tư theo đúng luật đi đường. Có điều khác rằng nhiệm vụ của những chú ngựa này nhằm để chở du khách đi vòng quanh ngôi làng Solvang.
Chúng tôi mất hơn một giờ để đi vòng quanh những ngôi nhà và cửa tiệm gỗ nhiều màu sắc, đẹp như một bảng màu pha. Mỗi cửa tiệm là một phong cách trang trí khác nhau. Nhưng tựu trung vẫn toát lên được một nét rất Solvang. Ví dụ như những bảng hiệu đều được làm bằng gỗ, hoặc từ sắt rồi bẻ cong rất nghệ thuật. Những chậu hoa trước mỗi cửa tiệm đều có chung vẻ đẹp đơn sơ. Những bộ bàn ghế đặt trật tự trên lề đường không thể làm vướng chân du khách...
Hình như tất cả đều tuân theo một phong cách thẩm mỹ tên Solvang!
Những ngôi nhà nhiều màu sắc trong thành phố Solvang. (Hình: Kalynh/Người Việt)
Đang say sưa đứng nhìn chiếc cối xay gió màu trắng trên cao, có những cánh quạt bằng gỗ sơn đỏ, chúng tôi chợt dừng mắt nơi một bảng hiệu trắng, có dòng chữ xanh lá quen thuộc, quen đến độ mà chỉ cần 1/1000 giây thoáng qua cũng đủ nhận ra đó là gì: Phở.
Phở 805 – Vietnamese Cuisine.
Hình như tất cả như vẫn còn rất mới. Vì ngay phía sau cánh cửa ra vào là một quán bar vẫn còn đang xây dựng dở dang. Chúng tôi cảm thấy thích thú với cách “mời chào” đặc biệt của quán phở này, đó là trên bậc thang bước lên lầu ngay sát bên quầy bar, là dòng chữ viết bằng phấn trắng: “Welcome to Pho 805.” (Xin mời đến với tiệm Phở 805.)
Dòng chữ trên bậc thang dẫn lên tiệm phở. (Hình: Kalynh/Người Việt)
Vừa bước lên được vài bước, lời đón tiếp từ trên lầu vọng xuống: “Xin chào quý khách.”
Rõ là tiệm rất mới đây thôi. Những bình hoa đặt dọc theo quầy tiếp tân thể hiện ngày khai trương quán cách đây không lâu.
Chọn ngay chiếc bàn ở vị trí đẹp nhất của quán, chúng tôi nhìn thành phố Solvang từ trên cao.
Nơi ngồi đẹp nhất trong quán Phở 805. (Hình: Kalynh/Người Việt)
  
“Tiệm mới mở cách đây sáu tháng. Tôi từ San Jose xuống đây, chọn nơi này để mở quán.” Chi Huỳnh, người cất lời chào chúng tôi, cũng chính là người chủ của quán Phở 805 cho biết.

“Hồi đó tôi 'quậy' lắm, ăn và chơi thôi. Gia đình gọi tôi là 'hàng hiệu CK' đó, là Chi khùng đó,” Chi Huỳnh vừa nói vừa cười sảng khoái.
“Bây giờ thì khác rồi. Tôi muốn làm ăn, coi như làm lại cuộc đời. Cho nên gia đình, người thân ủng hộ và giúp đỡ tôi mở nhà hàng này. Tôi không phải xuất thân là dân nhà hàng. Tôi chỉ thích nấu ăn. Rồi khi có ý định kinh doanh, tôi học hỏi thêm để quyết định mở nhà hàng.”
Giữa ngôi làng Đan Mạch cổ kính với những dãy nhà hàng, cửa tiệm sang trọng mang đậm chất vương giả, tiệm phở 805 của “CK” Chi Huỳnh vẫn không lạc lõng. Có lẽ cô đủ tinh tế để nhận ra rằng “nhập gia” thì “tùy tục.” Cô chăm chút quán phở của mình với thiết kế vừa mang nét Việt Nam, vừa không làm mất đi vẻ đẹp chung của Solvang.
Hỏi Chi Huỳnh vì sao cô “can đảm” mang món ăn được đưa tạp chí Condé Nast Traveler bình chọn là một trong 10 món ăn Việt ngon nhất nước Mỹ vào “đấu trường du lịch” Solvang cổ kính này?
“Món phở của người Việt nổi tiếng từ xưa đến giờ. Ở Mỹ này ai cũng biết, từ người Mỹ, đến người Mexico và những người châu Á khác. Mình phải giới thiệu món ngon của mình đến mọi người nhiều hơn chứ.” Lời giải thích của cô chủ quán “tay ngang” đơn giản nhưng rất chí tình.
Thực đơn của Phở 805 cũng đơn giản như thế. Nhà hàng chỉ có ba món ăn chính là phở, cơm và bún. Với cô, “đơn giản thôi, không phức tạp, nhưng mình làm hết sức mình.”
Cô cho biết mình vui nhất là khi khách ăn, họ khen món ăn của cô ngon. Và khổ nhất là có những bữa khách ào vào một lúc thật đông, không kịp xoay sở.
Chúng tôi được cô chủ quán chính tay nấu cho tô phở đặc biệt.
“Ở thành phố Solvang này, tìm được rau quế thơm và tươi như thế này không phải dễ. Thứ ba mỗi tuần, tiệm đóng cửa, tôi chạy về San Jose để mua những thực phẩm cần thiết. Mỗi tối, sau khi hết khách, tôi lại chuẩn bị nồi phở mới, hầm xương cho mềm và ngọt nước.” Chi Huỳnh nói về cách cô làm việc.
Đặc biệt, Phở 805 có phục vụ cà phê pha phin truyền thống của người Việt.
Chi Huỳnh, chủ nhân của Phở 805 pha cà phê phin cho khách. (Hình: Kalynh/Người Việt)
“Mỗi chiều, ngồi tại bàn này, uống ly cà phê nóng và nhìn mặt trời lặn ngoài cửa sổ, còn gì tuyệt vời hơn đúng không?” Chi vừa nói vừa chỉ cho chúng tôi thấy ráng chiều đang đậu ngoài cửa sổ.
Cô cho biết khách của tiệm vừa có người Á đông, vừa có người Mỹ và cả những sắc tộc khác. Có lẽ tiệm phở của cô nằm trong một thành phố du lịch nổi tiếng, vừa cổ kính, vừa đa văn hóa nên cô phải nêm nếm sao cho hài hòa với khẩu vị của mọi thực khách.
“Tuy không mang đậm chất phở truyền thống quen thuộc của Hà Nội, nhưng chắc chắn sẽ làm hài lòng du khách của vùng Solvang,” chúng tôi nghĩ như thế khi thấy có hai nhóm khách bước vào, và họ gọi ngay món phở.
Cảm mến cô chủ quán vui tính, và cũng muốn những người khách kia yêu quán Phở 805 này hơn, chúng tôi vội đứng lên để nhường chỗ ngồi đẹp nhất trong tiệm cho khách bạn.
“Người Việt mình tốt với nhau quá,” Chi nói.
Ngôi làng Solvang trong ráng chiều. (Hình: Kalynh/Người Việt)
Chúng tôi rời khỏi quán và tạm biệt Solvang. Mặt trời chỉ còn là một màu vàng dịu khuất phía sau những ngôi nhà gỗ. Những con đường nhỏ cũng rực đèn. Tiệm Phở 805 của người Việt duy nhất của thành phố Solvang luôn đón chờ tất cả đồng hương nếu có dịp đến ngôi làng Đan Mạch cổ kính này. 

Tuesday, March 10, 2015

Tai Vạ Không Tránh Được

Chồng tôi, anh Erik Landemalm gắt gỏng nói với tôi: “Anh không thích cái việc đó.”. Tôi trả lời anh: “Em cũng đâu có muốn, nhưng em không còn chọn lựa nào khác.”. Cả anh Erik lẫn tôi đều nghĩ rằng đi đến tỉnh Galkayo, Somalia vào lúc này là điều không nên làm. Đây là một thị trấn nhỏ chỉ cách khu vực Green Line nguy hiểm một đoạn đường ngắn. Green Line là vùng ngăn cách giữa một bên là lãnh thổ do chính phủ kiểm soát, và bên kia là khu vực bị các nhóm quân khủng bố Hồi Giáo hung dữ kiểm soát. Nhưng tôi đang làm nhân viên cứu trợ cho một tổ chức phi chính phủ (NGO), và tổ chức này muốn gửi tôi đến để lập một văn phòng ở đó.
 
Tôi bắt đầu cuộc đời đi làm thiện nguyện trong vùng Phi châu từ năm 2006, với tư cách là cô giáo dạy học ở Kenya. Tại đây tôi gặp anh Erik. Anh là người Thụy Điển đến Phi châu với mục đích thám hiểm, và du lịch.  Chúng tôi thành hôn năm 2009, và dọn về sống ở tỉnh Hargelsa, Somalia. Tôi làm việc cho một tổ chức phi chính phủ của nước Đan Mạch. Tôi có nhiệm vụ dạy cho người dân ở đây cách né tránh bãi mìn, những trái mìn chưa nổ còn chôn trong lòng đất. Đây là một tai hoạ làm cho nhiều người bị cụt chân.
 
Nhưng đi làm việc từ thiện không có nghĩa là chúng tôi được che chở, bảo vệ, thoát khỏi những tình huống bạo động, và giết chóc. Chiến tranh giữa các bộ lạc đang hoành hành khắp miền Nam nước Somalia. Gần đây nhất, một chiếc xe chở hành khách trên tuyến đường chúng tôi thường hay đi, bị giật mìn nổ tung. Chúng tôi cũng rất sợ nạn cướp bóc xảy ra cho chúng tôi. Người Da Trắng Tây phương thường là những mục tiêu để bọn ăn cướp giật đi một ít tiền nóng. Nhưng chúng tôi hết sức thận trọng trong việc đi lại, chỉ đi khi nào có việc cần thiết, và được bảo vệ an ninh cẩn thận.
 
Anh Erik nói với tôi: “Thôi em cứ đi đi. Làm cho xong việc thật nhanh rồi về lại đây.”. Anh dang hai tay ra ôm lấy tôi thật chặt, và quay người tôi một vòng. Tôi vẫn thường đi đến những vùng nguy hiểm, nhưng lần này, anh tỏ ra đặc biệt lo ngại, vì hình như tôi đang có thai. Chúng tôi hy vọng sẽ có đưá con đầu lòng. 
 
NGÀY 24 THÁNG 10 NĂM 2011,  tôi đáp chuyến máy bay của Liên Hiệp Quốc đi đến tỉnh Galkayo. Ở đây tôi sẽ gặp một đồng nghiệp của tôi, anh Poul Thisted, người Đan Mạch và một vài nhân viên phụ trách an ninh. Chúng tôi nghỉ đêm tại nhà khách của tổ chức Phi Chính Phủ, nằm ở phía bắc khu vực Green Line. Tôi nhận được lời nhắn của anh Erik: “Anh yêu em. Ráng giữ mình nghe em.”.
 
Sáng hôm sau, anh Poul và tôi cùng tham dự khoá huấn luyện tại văn phòng của t ổchức. Sau đó, tôi gửi một text message cho Erik: “Em đang đau bụng vì bị hành kinh. Có lẽ mình đoán sai về vụ em có thai. Tôi để lần sau, ráng cố gắng làm lại.”.
 
Trước khi Erik kịp trả lời thì xe của đến đón chúng tôi để đưa chúng tôi trở lại nhà khách. Ông Abdirizak, quản lý phụ trách an ninh leo lên ngồi phía sau chiếc Land Cruiser, trong lúc anh Poul leo lên ngồi phía trước, cạnh tài xế. Tôi nhận ra anh tài xế này là người mới. Lẽ thường tôi phải hỏi vì sao lại đổi tài xế. Nhưng anh Poul không tỏ ý gì quan ngại cả. Vì thế tôi cũng im lặng, không lên tiếng hỏi.
 
Mười phút sau, giống hệt như khi nghe trọng tài thổi kèn tu huýt bắt đầu trận đá bóng, cuộc tấn công khởi sự. Một chiếc xe lớn gầm thét tiến về phía trước để chặn đầu xe của chúng tôi. Xe chúng tôi phải thắng gấp để ngừng lại, khiến cho bùn văng tung toé lên mặt kính xe. Một đám người Somali ôm súng AK-47 vây quanh chúng tôi, họ gõ báng súng vào cửa xe, và la hét om xòm.
 
Hai tên giựt cửa xe mở tung ra, và nhảy vào trong xe. Một tên sau này tôi biết tên của nó là Ali, nắm lấy ông Abdirazak, lôi ông ra ngoài. Mặt của Ali mang những nét ghê rợn, vừa xấu xí vì đầy mụn, vừa dữ tợn vì đôi mắt đỏ ngầu, chứng tỏ hắn nhai rất nhiều lá “khat”, một loại lá gây kích thích, giống như ma túy.
 
Ali chĩa súng vào đầu tôi. Tài xế lái xe, không hiểu hắn có làm việc cho bọn khủng bố Somali hay không, vội vàng đóng xập cửa xe lại, và bỏ chạy mất. Chúng tôi bị nhốt cứng trong xe. Ali và đồng bọn, hươi súng lên trước mặt chúng tôi, rồi hắn hét bằng tiếng Anh: “Mobile!”. Nó muốn hỏi điện thoại để ở đâu.
 
Sau khi lấy điện thoại của chúng tôi, Ali  leo lên phía trước ngồi, và bảo anh Poul ngồi ở băng ghế sau. Tôi nhìn chòng chọc vào anh Poul và hỏi nhỏ anh: “Chuyện gì xảy ra vậy?”. Anh nói: “Chúng mình bị bắt cóc rồi.”.
Mấy tên trên xe vội quát vào mặt anh Poul, bảo anh câm miệng lại, và chiếc xe phóng đi vào bóng tối, cánh cửa xe rung  mạnh vì gặp phải đoạn đường gồ ghề. 
 
“TIỀN ĐÂU!”  Ali hét to lên, anh Poul nói không có tiền. May sao, bọn chúng không lục soát người chúng tôi. Tôi nhớ lại những lời dặn của huấn luyện viên trong khoá học vừa rồi. Họ dạy chúng tôi phải làm gì khi bị bắt làm con tin. Ông ta dặn chúng tôi phải tuyệt đối giữ bình tĩnh, đừng biểu lộ sự tức giận. Chọc giận bọn giặc trong lúc chúng đang hung hăng, hứng chí có thể khiến chúng giết mình một cách oan uổng.  Chưa chắc chúng dự tính sẽ giết mình. Huấn luyện viên dặn chúng tôi phải nhớ thuộc lòng số điện thoại của người thân để mình có thể liên lạc được. Đó là “bằng chứng của sự sống” khi người nhà nhận đuợc điện thoại của mình. Cách duy nhất để giúp bạn sống sót trong trường hợp bị bắt cóc là phải có số điện thoại để liên lạc khi kẻ bắt cóc đòi tiền chuộc.Tôi không bao giờ quên được số điện thoại của chồng tôi, anh Erik.
 
Cho đến lúc này, chúng tôi chưa nhận được tín hiệu gì về ý đồ của bọn bắt cóc. Chúng tôi không biết họ là ai, thuộc phe nào, và bọn chúng sẽ đưa chúng tôi đi đâu. Tôi và anh Poul chỉ còn biết trao đổi với nhau những tia nhìn sợ hãi, lo âu.
 
Bọn bắt cóc chúng tôi đeo vũ khí đầy trên người, những băng đạn dài được chúng khoác lên vai trông thật đáng sợ. Mỗi khi chúng thay xe, hay đổi tài xế, đạn trên người chúng nhảy tưng lên trông phát sợ. Chúng tiếp tục lái xe đi mãi trong bóng tôi, đi hoài. Tôi ngủ gà ngủ gật vì chán nản, chẳng biết làm gì. Bỗng dưng, xe ngưng lại, và Ali ra lệnh cho chúng tôi phải bước ra khỏi xe.
 
Hắn hét lên: “Đi ra” và tay hắn chỉ vào con đường mòn trước mặt.
 
Nói xong, nó dậm mạnh chân bước đi. Nó không đi theo chúng tôi. Một nhóm người khác tiếp tục thay thế Ali, và ra lệnh cho chúng tôi đi theo. Tôi chịu không nổi, tôi nhìn thẳng vào mặt một tên, và hỏi: “Tại sao đi hoài vậy.”.
 
Bụng tôi quặn đau. Tôi từ chối không đi nữa, trong lúc chúng gào thét bắt tôi đi tiếp. Đưá nào cũng có đôi mắt sưng vù, và đỏ mọng vì nhai nhiều lá “khat”.
 
Anh Poul nhẹ nhàng nắm tay tôi, kéo tôi đi, anh nói nhỏ với tôi: “Jessica, Không sao đâu. Mình phải làm theo lệnh của chúng thôi.”.
 
Tôi thì thầm nói với anh: “Không! Cùng lắm thì chúng nó giết mình.”
 
Anh năn nỉ tôi: “Jessica, trừ phi mình hợp tác với chúng, nếu không chúng sẽ giết mình.”.
 
Tôi đảo mắt ngó quanh, nhìn lũ người đang uy hiếp chúng tôi. Tôi cảm thấy tuyệt vọng, và không còn gì gọ là an toàn nữa. Khi chúng tôi phải cúi đầu đi theo bọn người bắt chúng tôi. Tôi bật miệng khóc và nói với anh Poul: “Tôi còn trẻ quá, sao họ nỡ giết tôi.”. Anh nhìn tôi trân trân, không nói gì, và tiếp tục bước đi.
 
Bọn chúng dẫn chúng tôi đi qua rất nhiều bụi cây, sâu tuốt vào bên trong. Trời ban đêm bắt đầu trở lạnh, tôi cảm thấy rùng mình. Anh Poul đi bên cạnh tôi, nhưng chúng tôi bị cấm nói chuyện. Đôi xăng đan tôi mang trên bàn chân trở nên cứng ngắc vì đạp phải nhiều bụi gai, và đất sình. 
 
Tôi không thể nín lặng được nữa, tôi khóc tức tưởi, rấm rứt, không thành tiếng. Cuối cùng chúng tôi cũng đi đến được điạ điểm phải tới. Thế là xong, đến nơi rồi.
 
Bọn bắt cóc ra lệnh chúng tôi qùi gối xuống, xây lưng lại phía chúng.
 
Tôi lâm râm cầu nguyện, nghĩ rằng chúng sẽ bắn mình chết. Nhưng không, chúng ra lệnh cho chúng tôi: “Ngủ đi.”
 
Hai chữ “ngủ đi” nghe sung sướng làm sao. Trong giây phút chúng tôi quên đi sự nguy hiểm, và muốn cảm ơn bọn bắt cóc đã cho chúng tôi ngủ. Đây là một dịp nghỉ ngơi để lấy lại sức. Bọn chúng đã ban phước lành cho chúng tôi.
 
SÁNG HÔM SAU, KHI MẶT TRỜI VỪA LÓ DẠNG, tôi mới biết mình còn sống. Tôi cảm thấy tươi tỉnh, vui trong lòng một chút, thay vì uể oài, biếng nhác vì thiếu nghỉ ngơi. Bọn bắt cóc dẫn chúng tôi đến một chòi lá, xung quanh có nhiều cây keo. Ngay ỡ giữa là một ụ đất khá lớn do mối vun lên thành  gò đất. Anh Poul ra hiệu cho tôi nên tìm cách nhớ kỹ cảnh vật xung quanh. Chúng tôi ra dấu, nói chuyện theo lối người câm, xin phép chúng cho liên lạc với tổ chức Phi Chính Phủ (NGO) của chúng tôi. Lời đề nghị của bị từ chối, nhưng rồi có một tên đứng ngoài sau lên tiếng nói rằng phải chờ lệnh của “Ngài Chủ Tịch”. Chẳng biết tên đó là ai, nhưng khi thấy chúng gọi y là Ngài Chủ Tịch, tức là theo hệ thống tổ chức kinh doanh, không phải theo lối “giáo sĩ” là chúng tôi mừng.
 
Tôi xin phép được đi vệ sinh, và được chúng miễn cưỡng cho đi, với những lời lầm bầm chửi ruả. Tôi lựa một bụi cây ở thật xa, hẻo lánh, dõi mắt quan sát xem có đứa nào đi theo hay không. Tôi nhìn thật kỹ, và thấy có một con đường đi. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ chạy trốn? Nhưng chạy đi đâu bây giờ? Tôi đang ở một nơi hoang vắng, không giấy tờ tùy thân, và không có tiền trong túi. Bất cứ mưu toan chạy trốn nào rồi cũng sẽ thất bại, và bị bắt lại.
 
Sau khi đi vệ sinh, quanh trở lại lều tạm trú, một gã tự giới thiệu mình là Abdi. Hắn nói được một chút tiếng Anh, và bảo đảm với tôi rằng chúng sẽ không giết tôi. Chúng muốn tiền chuộc, một số tiền thật lớn. Sau vài lần nhắm mắt ngủ được một chút, và nhiều lần xin đi vệ sinh không bị quấy rầy, tôi cảm thấy dễ chịu phần nào. Điều Abdi hứa không giết chúng tôi có lẽ là đúng, ít ra là vào lúc này.
 
Chúng tôi tiếp tục ở trong căn nhà tranh dưới bóng cây keo. Buổi tối chúng tôi phải nằm ngủ trên chiếc chiếu ngoài sân cỏ.
 
Được ít lâu, chúng tôi lại di chuyển. Chúng tôi đến chỗ mới, một trạm dừng chân để nghỉ lại vài ngày. Trạm nghỉ này là một lều tranh khá lớn, bao quanh một cây cột thật cao. Abdi đóng vai trò đội trưởng. Hắn giữ nhiệm vụ đôn đốc đàn em  hoàn thành công việc được giao phó. Abdi thích nói chuyện, nói nhiều lắm, nhất là sau khi nhai lá “khat”. Nhưng hắn có cái tật cọc cằn, và thay đổi tánh tình bất chợt. Có lúc hắn say sưa thảo luận về triết lý, rồi ngay sau đó, hắn trở mặt la hét, chửi rủa thô tục trong điện thoại khi cần ra lệnh, hay khi đòi thuốc lá, và lá “khat” để nhai.
 
Tôi khát nước, có lẽ trong miệng tôi có đầy đất cát. Mỗi ngày chúng tôi chỉ được một chai nước nhỏ. Anh Poul đòi cho thêm nước. Đòi mãi, anh bị một tên bảo vệ chửi rủa thậm tệ, bắt anh im miệng lại. Một lúc sau, tên lính bảo vệ mang cây súng trường đến gần anh. Nó kéo cơ bẩm, bóp cò súng. May thay súng không có đạn.
VÀI NGÀY SAU, MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG LỚN TUỔI TÊN LÀ  Jabreel đến đây. Hắn nói tiếng Anh, và tự giới thiệu mình là “thông dịch viên trung lập” từ thủ đô Mogadishu đến đây. Hắn nói với chúng tôi: “Mấy thằng này điên. Chúng nó đòi tiền chuộc $45 triệu mới thả hai người ra.”
 
Tôi trả lời hắn: “Không có ai chịu trả $45 triệu để chuộc hai nhân viên cứu trợ.”.
 
Hắn phân trần: “Tôi đến đây để giúp giải quyết vấn đề. Tôi nói với chúng là tối đa chúng chỉ có thể lấy được $900,000 mà thôi.”.
 
Khi trời xập tối, cái tên gọi là “Ngài Chủ Tịch” đến nơi. Trông hắn vào khoảng ngoài 40 tuổi, với một ít râu trên mặt. Hắn bàn luận với Jabreel vài câu. Sau đó tên này ra lệnh cho chúng tôi: “Gọi điện thoại.”.
 
Cuối cùng thì chúng tôi cũng liên lạc được với người nhà qua điện thoại, gọi là “bằng chứng con tin còn sống.”. Tôi theo dõi Jabreel bấm số điện thoại, và thấy mã số quốc gia gọi là Kenya. Tôi nghe một người xưng danh là Mohammed. Jabreel đưa điện thoại cho tôi trả lời, và người đó nói rằng ông ta là trợ lý cố vấn an ninh. Ông hỏi tôi vài câu để kiểm tra an ninh, chẳng hạn như con chó đầu tiên của tôi tên là gì. Chỉ có bấy nhiêu thôi. Sau đó, Jabreel giật lấy chiếc điện thoại trong tay tôi, và dành nói chuyện với Mohammed, y muốn biết chắc là Mohammed đang làm việc cho cơ quan Phi Chính Phủ.
 
Tôi rất mừng được liên lạc với thân nhân để cho họ biết tôi còn sống. Nhưng tôi ngạc nhiên người nói chuyện với tôi không phải là anh Erik. Sau lần nói chuyện ngắn ngủi, chúng tôi lại bị luà vào trong trại, rồi dẫn ra ngoài cánh đồng. Đến cuối ngày, khi những tên bảo vệ dơ cao súng lên, bắn thị uy, chúng tôi lại trở về trại, đi ngủ theo lệnh.
 
Qua ngày hôm sau, tên Jabreel nói với chúng tôi rằng bọn chúng đang lo vì có lẽ máy bay trên cao, và vệ tinh đang theo dõi chúng. Tôi nói: “Bọn tao chỉ là nhân viên cứu trợ, không ai dùng máy bay, hay vệ tinh để tìm kiếm làm gì.”.
 
Cứ như vậy, ngày nào cũng như nhau, sáng sớm chúng tôi bị lôi dậy, nằm ngồi lê lết dưới bóng cây keo, đến tối thì ngủ ngoài trời sa mạc. Tôi bị nhiễm trùng đường tiểu. Với kiểu ăn uống chung một cái chén, cái tô, bốc bằng tay, tôi bị đau bụng, tiêu chảy. Luân phiên khi thì đi tiêu chảy, khi thì ói mửa. Tôi đòi bọn chúng phải kiếm bác sĩ cho tôi. Tôi khóc vì đau bụng, và mệt lả. Bọn chúng bực mình, rất ghét khi nghe tôi khóc. Chúng hét lớn bảo tôi im miệng lại. cuối cùng, chúng cũng tìm cho tôi một bác sĩ. Người bác sĩ này chỉ khám sơ qua, và ném cho tôi vài viên thuốc, sau đó, hắn đi nhai lá “khat” với tên Jabreel. 
 
Một buổi sáng, tên Abdi từ bên ngoài vào trại. Hắn la hét om xòm trong điện thoại. Hắn chọn một cây gậy lớn, và đánh anh Poul. Nó bắt anh nằm xuống đất, tiếp tục đánh.
 
Tôi nghe tên Abdi vừa vung cây gậy đánh anh vừa hỏi: “Số tiền lớn đâu? Sao không có?”.
 
Anh Poul phân trần: “Đó không phải là lỗi của tôi.”.
 
Nó vung gậy quất vào người anh Poul trong lúc bắt anh nằm dang chân dang tay  ở dưới đất. Anh Poul hét lớn đòi nó ngưng đánh. Trong lúc đó, tôi cũng nức nở khóc vì bực tức. Tên Abdi trông thấy nét khổ sở tên mặt tôi, nhưng như thường lệ, sự đau khổ đó không làm cho chúng mủi lòng, thương hại. Thay vào đó, nó dậm chân và bước đến phía tôi, tay vung cây gậy lên, và nói: “Còn mày nữa. Đứng dậy. Đi Đi.”.
 
Tôi đứng dậy bước đi. Thằng Abdi bước theo và hét lớn: “Tiền chuộc mạng cho chúng mày đâu?”.
 
Tôi ráng trả lời trong không khí im lặng, căng thẳng: “Tao không biết. Poul cũng không biết. Chúng mày có đánh chết, bọn tao cũng không biết.”.
 
Nó chặn tôi lại, và ấn tôi ngồi xuống. Kế đến, nó ngồi xổm, kê sát mặt tôi, hỏi: “Tiền chuộc đâu?”. Nó nhìn thẳng vào mắt tôi, và viết con số 18 trên mặt đất bằng ngón tay. Nó giải thích: “Trong vòng bẩy ngày, phải đưa bọn tao $18 triệu nếu không chúng mày sẽ bị chặt đầu.”.
 
Một hôm, chúng đem hai đứa tôi ra bãi sa mạc để thu hình video. Hai thằng lính gác ôm súng trường đứng hai bên. Chúng buộc anh Poul phải nói trong video là cả hai chúng tôi đều mạnh khoẻ, bình an. Và anh phải lên tiếng yêu cầu đừng tấn công chúng bằng binh lính. Sau đó, anh Poul năn nỉ gia đình nên thu xếp tiền bạc để chuộc cho anh. Mặc dù anh biết gia đình anh không có đủ số tiền đó.
 
Cũng vào khoảng thời gian này, tên Jabreel liên lạc với chồng tôi. Nó đưa chiếc điện thoại cho tôi để tôi nói chuyện. Tôi nói: “Đây là Jessica.” Vừa nói tôi vừa thở mạnh vì hồi hộp. 
 
Đầu dây bên kia, tiếng anh Erik nói: “Đây là Erik, Jess Em có khoẻ không?” Anh cố gắng nói hết ý của anh trong một thời gian ngắn.
 
Tôi trả lời: “Em cũng OK.” Tôi năn nỉ anh nên chọn Mohammed làm ngưoời trung gian thương lượng cho hai gia đình, và nói với tên Abdi rằng họ đang cố gắng tìm cách thu xếp số tiền chuộc. Sau đó, tôi nói với tên Jabreel đi tìm Abdi cho tôi.
 
Tôi nói với anh Erik còn ở trên dây điện thoại: “Tên thủ lãnh của chúng sắp đến nói chuyện với anh để anh nghe về điều kiện của bọn chúng. Nhưng trước khi nó đến, em muốn nhắn với anh là em yêu anh nhiều lắm.”.
Tôi nghe tiếng anh nghẹn ngào nói: “Anh cũng yêu em nhiều.”
 
Tôi dặn anh: “Em sẽ cố gắng vượt qua khó khăn này.”
 
Anh vắn tắt nói với tôi: “Tốt lắm, Jess.”. Hình như anh đang ở trong căn phòng có khá đông người.
 
Abdi đi vào, cầm điện thoại nói chuyện, mắt nó sưng mọng vì nhai nhiều lá “khat”. Trong khi đó, tên Jabreel nói với anh Erik: “Tôi không phải là người trong tổ chức, tôi chỉ làm theo lệnh của họ.”.
 
Sau đó, tên Abdi nói chuyện với anh Erik. Anh hứa với nó rằng gia đình sẽ làm đúng theo kết quả thương thuyết của Mohammed. Anh nói lớn vào trong máy điện thoại: “Jessica, anh cầu nguyện cho em được an toàn, và anh sẽ làm đủ mọi cách để đem em và anh Poul trở về.”.
 
Tên Jabreel cắt điện thoại. Thế là xong.
 
SAU LẦN NÓI CHUYỆN BẰNG ĐIỆN THOẠI,  bọn bắt cóc tách rời anh Poul xa khỏi tôi. Từ đó, tên Jabreel bắt đầu dở trò xàm sỡ, đòi sờ mó, tấn công tình dục đối với tôi. Tôi nói với nó: “Đừng làm như vậy Jabreel. Tao có chồng và mày cũng đã có vợ.”. Nhưng cũng từ lúc đó, tôi phải tìm cách xa lánh tên này, kẻ duy nhất giúp tôi phiên dịch sang tiếng  Anh khi cần nói chuyện. Nó biết tôi muốn né tránh, nhưng càng ngày nó càng thèm muốn lại gần tôi. Một hôm khi thức dậy, tôi đã thấy nó nằm ngay bên cạnh. Tay của nó đang mò mẫm trong tấm mền tôi đắp, rờ vào chân tôi. Tôi đẩy tay nó ra, và xoay mình trở ngược lại.
 
Tôi mơ màng mình được về nhà với anh Erik. Đầu óc tôi miên man nghĩ đến căn phòng của chúng tôi, đến anh Erik, anh đang mong tôi trở về. Giây phút mơ màng đó chợt đến, rồi chợt đi. Nhưng thực tế trước mắt là tôi không có ai giúp đỡ cả.
 
HAI TUẦN SAU, CHÚNG ĐEM ANH POUL TRỞ VỀ TRẠI. Không một lời giải thích. Anh ở đó một ngày, tôi vội vàng hỏi thăm anh chuyện gì đã xảy ra, nhưng rất khó cho chúng tôi nói chuyện trước mặt những tên bắt cóc chúng tôi.
 
Một hôm chúng tôi nghe có tiếng ù ù từ xa, mãi tận trên không trung rất cao. Chúng tôi không thấy gì cả, nhưng những tên bắt cóc cứ nhất định bắt chúng tôi phải trốn dưới tàng cây.
 
Một buổi tối, tôi mở mắt nhìn vào bóng đêm. Trời ban đêm tối đen như mực, không trăng sao, và có bóng hỏa mù che khuất những tia sáng le lói của ánh sao đêm. Lúc đó vào khoảng 2 giờ sáng. Đúng giờ này tôi thường đi ra bụi cây để đi vệ sinh. Vì bị nhiễm trùng đường tiểu, nên ban đêm tôi thường phải thức dậy để đi tiểu. Tôi đứng dậy, và nói khẽ: “Toilet.”. Tôi phải xin phép mới được bước ra khỏi chiếu của mình.
 
Không một ai trả lời tôi. Tôi đứng lặng yên, nín thở, lắng nghe. Tôi nghe tên lính gác đang ngủ, chúng ngáy rất lớn. Tôi nói lớn hơn một chút: “Ê tụi bay! Nghe tao nói gì không? Tao muốn đi tiểu.”.
 
Không một tiếng trả lời. Có lẽ chúng không nghe, hay chẳng thèm để ý.
 
Tôi đi một mình ra bụi cây gần nhất. Lúc đó chỉ có một mình tôi, thật bình yên. Bóng đêm như đang che chở cho tôi. Tôi chợt nẩy ra ý nghĩ chạy trốn. Tôi thấy sức khoẻ đã khá hơn, nhưng thỉnh thoảng vẫn đau quặn ở dưới bụng. Chạy trốn ư? Phải rồi, nên chạy trốn đi mới được. 
 
Tôi quanh trở lại chiếc chiếu, đặt mình nhẹ nhàng nằm xuống, cong người như con tôm.
 
Tiếng động nghe như tiếng cành cây gẫy, làm tôi thức giấc. Không chừng đó là tiếng kêu của thú vật, hay là một nhánh cây khô bị gió thổi làm gãy xuống. Nhưng rồi sao lạ quá, hết nhánh cây này gẫy lại đến nhánh cây khác. Chuyện gì đang xảy ra ở ngoài kia?Tôi đang mơ ngủ, hay là tỉnh? Cứ mỗi lần tôi tỉnh trí là lại nghe tiếng nhánh cây gẫy. Rồi tôi nghe như tiếng chim chút chit, nhón mình ra khỏi tổ. Ngay sau đó, tôi nghe tiếng động mạnh ở cạnh chiếu tôi nằm.
 
Bọn lính Somali lập tức nhảy nhỏm dậy, và chúng kéo cơ bẩm súng, lên đạn sẵn sàng. Một khoảng im lặng kéo dài khá lâu, sau đó thì tiếng súng nổi lên dòn dã. Cuộc đấu súng quyết liệt xảy ra ở tứ phía. Chắc là tôi đã la hét lớn lắm, nhưng tiếng hét của tôi bị tiếng súng nổ lấn át. Hay là một bộ tộc khác đến đây đánh nhau với bọn này để dành giật chúng tôi, lấy tiền chuộc mạng? Tôi lâm râm cầu nguyện Thượng Đế, và nhắn gửi thương yêu của tôi đến anh Erik.
 
Tôi nghe tiếng bọn khủng bố Somali la hét ra lệnh cho nhau, rồi tôi nghe tiếng đạn xé tan không gian im lặng, và tiếng người hực lên trước khi chết. Tôi nghe có người kêu: “Trời ơi.” Và y thở hắt ra trước khi chết.
Một bàn tay mạnh mẽ nắm lấy tấm mền của tôi. Tôi tìm cách cưỡng lại. Nhưng rồi một giọng đàn ông gọi tên tôi: “Jessica.”
 
Tôi giật mình tỉnh rụi, như có người vừa tát vào mặt tôi. Một người nói giọng Mỹ?
 
Bóng đêm đen tối che dấu những khuôn mặt người lạ. Trông họ như những bóng ma, với vũ khí cực mạnh. Tôi không tin những người này đến đây để cứu tôi. Vì thế tôi dùng hết sức bình sinh để kháng cự lại. Dù biết rằng mình có thể bị giết, nhưng tôi bất cần, tôi chống lại theo bản năng. Sau đó tôi nghe họ nói:
 
“Jessica! Đây là quân đội Mỹ. Cô được gỉải cứu rồi. Chúng tôi sẽ đem cô về nhà.”.
 
Ngày 25 tháng Giêng năm 2012, bằng mệnh lệnh của Tổng thống Barack Obama, 24 chiến sĩ Biệt Kích US Navy SEAL được biệt phái thực hiện chuyến nhảy dù đánh đột kích vào nước Somalia, giết chết một số tên bắt cóc, và giải cứu được cô Jessica Buchanan và anh Poul Thisted bằng máy bay trực thăng.
 
Nguyễn Minh Tâm